Người góp mặt trong thời khắc lịch sử tại Dinh Độc Lập

Tôi có may mắn được trò chuyện cùng ông Nguyễn Hữu Thái, khi ông có mặt ở Hà Nội tham dự Đại hội kiến trúc Việt Nam lần thứ VIII. Tôi vẫn giữ mãi ấn tượng tốt đẹp về một ông già có dáng người thanh nhã, mái tóc bạc trắng, đôi mắt sáng thông tuệ sau cặp kính dày. Ông là người đã chứng kiến và tham gia vào sự kiện lịch sử trưa 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập. Hôm ấy, cùng chung những cảm xúc về ngày 30 tháng 4 lịch sử, câu chuyện giữa chúng tôi diễn ra chân thực, cởi mở.

Từ thủ lĩnh sinh viên Sài Gòn

Dù sự kiện diễn ra lúc 11h30 ngày 30/4/1975 đã được sử sách ghi chép khá đầy đủ, nhưng khi trực tiếp nghe kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái kể lại, tôi vẫn thấy trào dâng niềm xúc động đến khó tả. Trong buổi chiều muộn hôm ấy tại một quán cà phê bên khách sạn Công Đoàn (phố Trần Bình Trọng, Hà Nội), câu chuyện nhiều chủ đề với ông Thái, rốt cuộc lại trở về với sự kiện trọng đại của đất nước mà ông là nhân chứng.

Ông Thái xúc động kể lại: “Tầm 10h30 (giờ Sài Gòn trước đây, sớm hơn hiện nay 1 tiếng - PV) ngày 30/4/1975, khi đang có mặt trong Dinh, chúng tôi chợt nghe tiếng xe tăng vọng tới. Từ sảnh Dinh Độc lập nhìn ra đại lộ Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn), một cảnh tượng hoành tráng đang diễn ra: Đoàn xe tăng rầm rộ tiến về hướng Dinh. Bỗng chốc chiếc cổng bị húc đổ, những chiếc xe tăng nhuốm màu khói súng cày lên thảm cỏ, tiến thẳng về phía thềm dinh...”.

Ông Nguyễn Hữu Thái (bìa phải) và tác giả.

Ông Nguyễn Hữu Thái (bìa phải) và tác giả.

Sinh trưởng ở Đà Nẵng trong một gia đình cha làm công chức, mẹ là tiểu thương, Nguyễn Hữu Thái là anh cả của 9 người em. Từ tấm bé, Thái là niềm kì vọng của cả gia đình; được ăn học tử tế để mai sau trưởng thành, làm gương cho các em. Năm 1958, Nguyễn Hữu Thái đỗ Tú tài tại Trường Thiên Hựu (Huế), rồi vào Viện Đại học Sài Gòn, học ngành Kiến trúc và Luật.

“Thực ra, lúc đó tôi cũng chưa có ý thức gì về cách mạng, những điều đã biết thì cũng rất mơ hồ. Nhưng là thanh niên trong cảnh đất nước tao loạn, khiến tôi không thể không tham gia tranh đấu” - ông Nguyễn Hữu Thái kể. Với bao lần xuống đường dẫn đầu các đoàn biểu tình của sinh viên, Nguyễn Hữu Thái đã lọt vào sổ đen của các cơ quan mật vụ. Ông được bầu làm Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (nhiệm kì 1963-1964) – một chức vụ do giới sinh viên lựa chọn và bầu từ những thủ lĩnh sinh viên các trường đại học. Nguyễn Hữu Thái đã trở thành cái tên quen thuộc trong sinh viên, học sinh Sài Gòn đương thời. Ông từng 3 lần bị chế độ Sài Gòn cầm tù trong những năm 1964 đến 1974.

Vị cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn bồi hồi nhớ lại những ngày sục sôi tranh đấu: “Sau cuộc đảo chính tháng 11/1963, phái quân sự lên nắm quyền, sinh viên tiếp tục xuống đường tranh đấu. Sang năm 1964 thì tôi bị bắt giam ở khám Chí Hòa. Cùng phòng giam có một số cán bộ Việt cộng. Ngay trong đêm đầu tiên, giữa tôi và họ đã tranh luận gay gắt về phương pháp đấu tranh... Những cán bộ Việt cộng này đa phần hoạt động ở vùng nông thôn nên không hiểu lắm tình hình đô thị. Tuy vậy, càng tranh luận thì tôi càng bị họ thuyết phục và hiểu rằng, ngoài cuộc đấu tranh của sinh viên, trí thức chống chế độ Sài Gòn, còn có cuộc đấu tranh lớn lao của những người Cộng sản... Từ đây, tôi dần dần có thiện cảm với họ và chuyển hướng đấu tranh của mình; đặc biệt là sau khi quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, năm 1965”.

Sau khi ra tù năm 1964, Nguyễn Hữu Thái là cái gai trong mắt của các cơ quan mật vụ. Để bảo vệ an toàn cho Thái, một số người có ảnh hưởng với chính quyền đã đưa anh đến nương thân trong nhà một người Mỹ, là ông Wilson, Phó Giám đốc điều hành Cơ quan viện trợ của Mỹ tại Nam Việt Nam (USAID).

“Ông Wilson có vai trò gần như một viên “Công sứ” của Mỹ tại Sài Gòn. Ổng rất quý mến tôi vì thấy tôi thạo tiếng Anh. Hằng ngày, tôi còn dạy ổng tiếng Pháp để giao tiếp với các quan chức Sài Gòn (hầu hết họ đều thạo tiếng Pháp). Wilson gợi ý tôi sang Mỹ học tiến sĩ, với học bổng toàn phần do ổng tìm giúp... Tôi đứng trước ngã ba đường: hoặc sang Mỹ học tiến sĩ, hoặc ở lại trong nước đi theo cách mạng” – ông Thái nhớ lại.

Bâng khuâng đưa mắt nhìn ra con phố Trần Bình Trọng đang xào xạc những tán lá dưới ánh đèn đường vừa tỏa sáng, ông Thái chợt nghẹn giọng khi nhớ lại những thăng trầm của mình: Tôi quyết tâm thoát ly ra “cứ” hoạt động, nhưng không được toại nguyện. Sau này, tôi được biết, cũng có ý kiến nghi ngờ tôi giao tiếp nhiều với người Mỹ, cần phải có thời gian thử thách; có ý kiến cho rằng, tôi ở lại Sài Gòn hoạt động công khai thì có lợi hơn... Lại thêm những khúc quanh của cuộc đời. Nguyễn Hữu Thái bị bắt quân dịch, trở thành giảng viên chiến tranh chính trị trong quân đội Sài Gòn rồi lại bị bắt đi tù…

Ra tù lần thứ ba, ông tiếp tục hoạt động công khai, trở thành cây bút chủ lực của Báo Điện Tín do Dương Văn Minh chủ trương. Ông ngày càng gắn bó hơn với nhóm trí thức trẻ thân cận với Dương Văn Minh, như Ngô Công Đức, Lý Quý Chung, Phan Xuân Huy, Nguyễn Văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Huỳnh Bá Thành... Họ là những người được coi như “thành phần thứ ba” có xu hướng vận động chính quyền Sài Gòn đi vào con đường hoà giải, hoà hợp dân tộc. Và đó cũng là những tiền đề để ngày 30-4-1975, Nguyễn Hữu Thái có mặt trong Dinh Độc lập chứng kiến lịch sử sang trang.

Đến MC bất ngờ trong buổi phát thanh lịch sử

Nhớ lại thời khắc lịch sử tại Dinh Độc Lập, ông Nguyễn Hữu Thái xúc động kể: Khoảng 10 giờ sáng 30/4/1975, tôi cùng nhà báo Nguyễn Văn Hồng và Giáo sư Huỳnh Văn Tòng lên chiếc xe Renault màu xanh của Hồng, xe này có giấy phép đặc biệt ra vào Phủ Tổng thống. Đường phố vắng tanh. Khi xe chạy vào cửa hông Dinh trên đường Nguyễn Du, cửa mở sẵn nên chúng tôi chạy thẳng luôn vào thềm Dinh.

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng (ông Nguyễn Hữu Thái đứng thứ hai bên phải, tay cầm tập giấy). Ảnh: Kỳ Nhân.
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng (ông Nguyễn Hữu Thái đứng thứ hai bên phải, tay cầm tập giấy). Ảnh: Kỳ Nhân.

Khoảng 10h30’ (11h30’, giờ Hà Nội), chúng tôi thấy một đoàn xe tăng ầm ầm tiến về phía Dinh... Tôi, anh Huỳnh Văn Tòng và một số người khác đưa anh bộ đội (Bùi Quang Thận) vào thang máy, lên cắm cờ Mặt trận trên nóc Dinh Độc Lập. Sau đó, chúng tôi trở xuống tầng hai của Dinh rồi cùng bộ đội đưa Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Tổng trưởng Thông tin Lý Quý Chung ra đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Khi tới Đài, lực lượng cách mạng đã làm chủ đài nhưng không ai biết vận hành máy móc. May sao, anh em sinh viên đi tìm được kĩ thuật viên Trần Văn Bảng.

Về nội dung bản tuyên bố đầu hàng, tôi chứng kiến giữa ông Dương Văn Minh và ông Bùi Văn Tùng có lời qua tiếng lại. Ông Minh không muốn nêu chữ Tổng thống, mà chỉ muốn dùng chữ Đại tướng, vốn quen thuộc hơn. Ông Tùng cương quyết không chịu vì cho rằng, dẫu sao thì tướng Minh cũng đã là Tổng thống chính quyền Sài Gòn và phải tuyên bố với tư cách đó mới ra lệnh được cho cả bên dân sự lẫn quân sự. Thu băng và thử đi thử lại mấy lần mới xong.

Người dẫn chương trình phát thanh cách mạng đầu tiên trong ngày lịch sử đó chính là ông Nguyễn Hữu Thái. Dường như, tố chất của một cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trải qua bao năm lăn lộn đấu tranh công khai đã được dồn nén và phát lộ đúng lúc. Ông Thái nói trực tiếp vào micro và Đài cũng phát trực tiếp. Tuy vậy, câu từ mạch lạc, khúc chiết và lần đầu tiên Sài Gòn được gọi là thành phố Hồ Chí Minh...

Đó thực sự là tiếng nói của cách mạng, mở đầu cho một trang sử mới của nước Việt Nam: “Chúng tôi là những người đại diện cho Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới Dinh Độc lập trước 12 giờ và đã cùng anh em Quân giải phóng cắm cờ trên Dinh Độc lập... Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng... Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng...”.

Cảm xúc tháng tư trào dâng trong hai chúng tôi, một người là chứng nhân lịch sử, một người là nhà báo... Ông Thái lấy ra một tấm ảnh đã rất quen thuộc với không chỉ người Việt Nam từ hàng chục năm qua, chụp cảnh tuyên bố đầu hàng của Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh và cẩn thận ghi lời tựa phía sau bức ảnh tặng tôi.

Họ là những người được coi như “thành phần thứ ba” có xu hướng vận động chính quyền Sài Gòn đi vào con đường hòa giải, hòa hợp dân tộc. Và đó cũng là những tiền đề để ngày 30/4/1975, Nguyễn Hữu Thái có mặt trong Dinh Độc lập chứng kiến lịch sử sang trang.
Trần Duy Hiển

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.