“Ngô Vương” – một mô hình tiểu thuyết lịch sử

Khái niệm "tiểu thuyết lịch sử" và cách viết, lối phân tích một tiểu thuyết lịch sử không phải chỉ ở nước ta, mà còn chung cho nhiều nước, là chưa thống nhất, rõ ràng. Có nhất định phải trung thành với lịch sử, viết đúng với lịch sử không? Nếu thế thì sáng tạo của nhà tiểu thuyết ở đâu?... 

Nhưng có những vấn đề cơ bản thì hầu như nhất trí:

- Tiểu thuyết là sáng tạo, là hư cấu, tưởng tượng. Lịch sử là sự thật đã qua. Tiểu thuyết lịch sử là sự sáng tạo trên nền sự thật mà biểu hiện rõ nhất là các nhân vật lịch sử. Các sự kiện cũng xoay quanh các nhân vật này. Do vậy, nhà tiểu thuyết phải bám vào nhân vật lịch sử để hư cấu, sáng tạo và không được xuyên tạc nhân vật lịch sử.

Nhà tiểu thuyết vừa là nhà nghiên cứu lịch sử, biết sâu sắc các sự kiện và thấm thía cao nhất ý nghĩa lịch sử mà mình quan tâm. Dĩ nhiên là nhà văn thì viết phải có văn để sinh động hoá lịch sử. "Văn" ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ lời văn hay câu văn đẹp mà còn là kết cấu, cốt truyện, xây dựng nhân vật, chi tiết, đối thoại… nhìn chung là cách kể hấp dẫn.

- Nhà tiểu thuyết lịch sử phải tạo ra một ấn tượng về bài học lịch sử cho độc giả. Nói nôm là phải có một bài giáo dục cho hôm nay.

Với tiểu thuyết "Ngô Vương", Phùng Văn Khai đã tạo ra một mô hình lịch sử thời Ngô Quyền, theo chúng tôi là sinh động để chuyển tải một bài học giáo dục về lòng yêu nước, về tinh thần tự hào dân tộc, về ý thức tự chủ… bằng một hình thức nghệ thuật.

Hiện nay người ta không phủ nhận thuyết phản ánh nhưng đề cao lý thuyết mô hình, coi nhà văn sáng tạo tác phẩm là sáng tạo ra một cuộc sống mới, một thế giới mới. Cuộc sống trong tác phẩm thoát thai từ đời sống nhưng không đồng nhất với đời sống, nó chỉ là mô hình về đời sống.

Tác phẩm bắt rễ từ hiện thực nhưng không mô phỏng hiện thực mà tạo ra một mô hình mới về hiện thực. Chính vì thế, không chỉ văn học, mà nghệ thuật nói chung người ta đều yêu cầu nghệ sỹ sáng tạo theo mình cảm thấy chứ không phải phản ánh cái trông thấy.

Nhà văn Phùng Văn Khai và bìa cuốn tiểu thuyết "Ngô Vương".
Nhà văn Phùng Văn Khai và bìa cuốn tiểu thuyết "Ngô Vương".

Có vậy mới tránh sự trùng lặp, mới tạo ra sự đa dạng, phong phú. Vì để viết ra cái cảm thấy thì là cả một sự kỳ khu, một lao động khó khăn, đòi hỏi phải có vốn sống, có tài năng thật sự. Nghệ sỹ càng cá tính bao nhiêu càng có cơ hội cảm thấy đời sống sắc sảo, khác biệt bấy nhiêu.

Tôi cho rằng viết tiểu thuyết lịch sử là một sự sáng tạo ra một mô hình mới về lịch sử, mà ở đây xin chứng minh qua một "Ngô Vương".

Tác phẩm đã chọn một đề tài đích đáng để sáng tạo. Ngô Quyền là vị anh hùng dân tộc. Những sự kiện xoay quanh nhân vật này đủ những phức tạp để nhà văn hư cấu mà không sợ làm sai lạc lịch sử. Nhưng dù thế, "Đại Việt sử ký toàn thư" cũng chỉ viết gọn trong trên dưới hai trang giấy. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong "Lịch sử nước ta" cũng chỉ gói gọn trong câu lục bát: "Ngô Quyền quê ở Đường Lâm/ Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm”. Phùng Văn Khai đã sáng tạo ra một tiểu thuyết dày 453 trang, mà tôi gắng đếm tới 96 nhân vật ở cả hai tuyến chính diện và phản diện. Nói thế cũng để khẳng định thành công của tiểu thuyết này là ở cách dựng nhân vật khá sắc nét, ở chỗ tạo ra con người vừa là của ngày ấy với ngôn ngữ, điệu bộ, cử chỉ… nhưng hôm nay vẫn hiểu được.

Thế nên người ta vẫn nói nhân vật của tiểu thuyết lịch sử luôn đi trên dây, nghiêng về lịch sử thì khó hiểu, nghiêng về hiện đại thì mất chất sử. Ở cuốn này nhà văn đã xây dựng nhân vật Ngô Quyền thành công, vừa uy dũng, lẫm liệt, sang trọng vừa đời thường, gần gũi, giản dị.

Một điểm nữa cần nhắc đến là chọn được những chi tiết đắt. Dĩ nhiên thể loại văn xuôi nào cũng cần đến chi tiết nghệ thuật, nhưng ở tiểu thuyết lịch sử thì chi tiết đòi hỏi khắt khe hơn, vừa tái hiện lịch sử, vừa nói được tính cách nhân vật, vừa tạo ra được ý nghĩa.

Ví như chi tiết "Khi soái thuyền chìm dần xuống lòng sông, Giao vương Lưu Hoằng Tháo uất hận rút kiếm tự sát còn không rời chiếc ghế gỗ bọc da hổ trong soái thuyền. Bàn tay Giao vương nắm chắc kiếm đến mức đám quân vớt lên phải loay hoay mãi mới gỡ được…" (tr 376). Khi ta biết đó là thanh kiếm "lệnh" của Hán đế Lưu Cung trao cho Hoằng Tháo để "làm cỏ" xứ Giao Chỉ thì ta thấy chi tiết này nói được nhiều về tính cách nhân vật: sự uất hận tột cùng, sự tham quyền cố vị, sự quyết tâm và dã tâm cướp nước đến cùng, sự thảm bại đau đớn…

Cũng với thanh kiếm ấy thì Ngô Quyền lại cầm và "quẳng thanh kiếm xuống cửa biển Bạch Đằng lúc này thuỷ triều đang dâng lên ào ạt" (tr 376) thì thật hay: chôn vùi ý chí xâm lược của kẻ cướp, sự mong muốn hoà bình.

Lịch sử gần với tâm linh, lịch sử càng xa càng được phủ dày những lớp huyền thoại. Các đền thờ Hưng Đạo Đại Vương có ở khắp nước ta cũng là một biểu hiện tâm linh ngưỡng vọng, sùng bái người anh hùng có công giữ nước, giữ hoà bình cho chúng sinh. Vì thế, một đặc điểm của tiểu thuyết lịch sử là không thể thiếu yếu tố tâm linh. Gia Cát Khổng Minh là một siêu nhân về tâm linh, rất nhiều lần ông thắng đối phương bằng tâm linh. Các anh hùng Lương Sơn Bạc lại mượn đến tâm linh để dựng cờ "Thế thiên hành đạo" cho hợp lý…

Trong "Ngô Vương" có nhiều nét tâm linh ý nghĩa. Như trong giấc mơ Ngô Quyền được Bố Cái Đại vương Phùng Hưng hẹn đem "thần binh" cùng đuổi giặc (tr 333). Đó không chỉ là câu chuyện thêm thắt mà còn là ý nghĩa "Tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ" (Nguyễn Trãi). Khi nước có giặc thì không chỉ thời hiện tại mà còn cả lịch sử hôm qua đánh giặc.

Đòi hỏi về "Ngô Vương"? Cần thêm những yếu tố thi pháp hiện đại, ví như "dòng ý thức" để khám phá "con người bên trong con người". Ta thấy những Ngô Quyền, Kiều Công Tiễn, Lưu Hoàng Tháo… có phần đơn giản, trước sau vẫn là chính nó, thật dễ hiểu. Mà dễ hiểu thì cần gì khám phá thêm. Tác giả dày công hơn đi phân tích những trăn trở, những đau đớn, những đam mê… theo chiều sâu tâm thức thì nhân vật sẽ "thật" hơn nhiều…

"Ngô Vương" cho ta một kinh nghiệm về tiểu thuyết lịch sử, là người viết phải có quan điểm rõ ràng là nhân dân là người sáng tạo và làm nên lịch sử. Nhà văn viết về bất cứ sự kiện lịch sử nào cũng đều phải thấy nhân dân là lẽ phải, nhân dân là chính nghĩa. Nhân dân ủng hộ ai, giúp ai, người ấy, lực lượng ấy sẽ thắng lợi và ngược lại. Ngô Quyền được sự ủng hộ của chúng dân nên đã thành công. Tác phẩm về đề tài lịch sử là sự sáng tạo, hư cấu trên cái nền đã ổn định của sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử. Nhà văn có thể tha hồ bay lượn trong không gian tưởng tượng sáng tạo nhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làm giàu thêm vốn thẩm mỹ mới cho bạn đọc về lịch sử.

Viết về Nguyễn Trãi hay Lê Lợi, nhà văn không nên lệ thuộc vào con số tỉ lệ bao nhiêu là thực bao nhiêu là hư (ai mà thống kê cho rõ được), anh ta có thể hư cấu tới 80%, 90%, điều ấy không quan trọng. Điều cơ bản là hư cấu làm sao để cho bạn đọc thấy đó vẫn là Nguyễn Trãi, vẫn là Lê Lợi. Nghĩa là qua sáng tạo, nhà văn phải làm cho bạn đọc thêm hiểu, thêm yêu, thêm quý trọng nhân vật lịch sử, nếu đó là nhân vật tích cực, chính diện và ngược lại. "Ngô Vương" có nhiều sáng tạo nhưng đã khắc họa Ngô Quyền sinh động hơn, cụ thể hơn, hấp dẫn hơn.

Một điều tối kỵ của tác phẩm về đề tài lịch sử là làm sai lệch chân dung nhân vật của lịch sử, sai lệch sự kiện lịch sử.

Lịch sử, xét đến cùng là những gì đã đi qua được người hiện tại ý thức lại. Những bài học lịch sử về đấu tranh chống ngoại xâm sẽ vô ích nếu không làm đọng lại ở người học hôm nay về lòng yêu nước, yêu tự do, lòng kính trọng cha ông đã dũng cảm kiên quyết bảo vệ nền độc lập tự chủ cho nước nhà, từ đó mà được tiếp thêm niềm tin, niềm tự hào để sống mạnh mẽ hơn, trung thực hơn, chân chính hơn. Văn học cũng mang mục đích ấy.

Nhà văn viết về quá khứ nhưng mục đích là làm sao cho độc giả hôm nay nhận rõ thêm chân giá trị của ngày hôm qua, để họ sống sao cho xứng đáng với lịch sử. Hãy cứ hình dung con đại bàng tác phẩm về đề tài lịch sử được nâng bởi hai cánh sự thật và thẩm mỹ mà bay vào bầu trời văn hoá đương đại và văn hoá tương lai! "Ngô Vương" có thể chưa là đại bàng nhưng với tôi, nó là cánh chim đưa tâm hồn tôi trở về với thời Ngô Quyền đánh giặc, để tôi thêm hiểu, thêm yêu, thêm tự hào lịch sử văn hoá đất nước mình, dân tộc mình.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.