Nghiên cứu - phê bình mỹ thuật: "Khoảng trống" từ khâu đào tạo
Vừa qua, tại Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam đã diễn ra triển lãm “Nghiên cứu điền dã Nam Định, Bắc Ninh” của nhóm sinh viên năm thứ 2 Khoa Lý luận, Lịch sử và Phê bình nghệ thuật. Triển lãm này cũng là kết quả báo cáo kết thúc học phần Lịch sử mỹ thuật Việt Nam 2 của các sinh viên, song nó cho thấy những nỗ lực của thầy và trò Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam trong công tác dạy và học về chuyên ngành nghiên cứu và phê bình mỹ thuật - lĩnh vực vốn đang tồn tại những “khoảng trống” cần được lấp đầy...
Chia sẻ niềm vui khi có được thành quả trong hoạt động học tập và nghiên cứu, em Lê Thu Linh - sinh viên lớp Lý luận K21 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam cho biết: “Vừa qua, lớp Lý luận K21 đã được Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức cho đi thực tế điền dã tại 2 tỉnh Nam Định và Bắc Ninh. Chuyến đi thực tế này giúp chúng em bổ sung được những kỹ năng đã được học trên lớp như kỹ năng thu thập thông tin, phân tích tài liệu và các kỹ năng mới như quan sát hiện vật, di sản, di tích để nhận diện được các đặc điểm mỹ thuật và hiểu được giá trị mỹ thuật Việt Nam trong tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc.
Có thể nói, công việc nghiên cứu là một công việc tỉ mỉ, đòi hỏi người nghiên cứu phải có khả năng bao quát khi đi điền dã tại di tích. Việc chụp ảnh, ghi, vẽ sơ đồ, đo đạc và làm bản rập cũng là những kỹ năng được học thật cẩn thận trong quá trình nghiên cứu. Từ việc học tập tại các di tích lần này, chúng em học được nhiều kiến thức bổ ích. Hy vọng rằng, trong những năm tiếp theo chúng em lại có được những chuyến thực tập, nghiên cứu điền dã tại các di tích mỹ thuật khác để tiếp tục với hành trình nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam, bồi đắp thêm kiến thức cũng như tình yêu với nền mỹ thuật nước nhà...”.
Các thế hệ sinh viên Khoa Lý luận, Lịch sử và Phê bình mỹ thuật chụp ảnh trong lễ kỷ niệm 45 năm ngày thành lập khoa (12/2023).
Như trên đã nói, có được cuộc triển lãm nhỏ này là thành quả của sự nỗ lực rất lớn của các sinh viên, giáo viên hướng dẫn cũng như của Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam trong việc quan tâm, đào tạo chuyên ngành Lý luận, Lịch sử và Phê bình nghệ thuật. Chính vì thế, khóa 21 đã có 5 sinh viên theo học - con số được xem là một dấu mốc thành công trong công tác chiêu sinh những năm gần đây. Điều này đem đến niềm hy vọng tương lai sẽ có được những lứa sinh viên được đào tạo chính quy, bài bản và được thực hành để trở thành những nhà nghiên cứu mỹ thuật độc lập, có trình độ chuyên môn và tình yêu với nghệ thuật, khắc phục phần nào sự thiếu vắng trong hoạt động phê bình mỹ thuật chuyên nghiệp hiện nay.
Theo tìm hiểu của phóng viên, hiện nay trên địa bàn cả nước chỉ có 2 đơn vị đào tạo về lý luận và phê bình mỹ thuật, đó là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam và Trường Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh. Riêng Khoa Lý luận của trường Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh đã được sáp nhập với Khoa Sư phạm, trở thành Khoa Lý luận và Sư phạm mỹ thuật vì không có sinh viên theo học.
Tương tự, cũng từ hàng chục năm nay, chuyên ngành Lý luận, Lịch sử và Phê bình nghệ thuật của Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong khâu tuyển sinh, đặc biệt, có năm trường chỉ tuyển được... 1 sinh viên. Dù chỉ tiêu tuyển sinh của trường đối với khoa này mỗi năm cũng chỉ có 5, nhưng thường chỉ tuyển được 2-3 em.
Để khắc phục tình trạng này, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam đã đưa ra những phương pháp điều chuyển theo nguyện vọng của các sinh viên thi từ các khoa khác sang. Bên cạnh đó, nhà trường và khoa đã liên tục tiến hành rà soát, chỉnh sửa chương trình đào tạo của ngành, rút ngắn thời gian đào tạo từ 5 năm xuống 4 năm. Tuy nhiên, vẫn không cải thiện được nguồn nhân lực cho việc đào tạo lý luận và phê bình mỹ thuật. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu lý luận phê bình được đào tạo và ra trường trước đây, đa phần làm trái nghề, nhiều nhà nghiên cứu đã có tuổi, nghỉ công tác.
Đóng góp lớn của số ít nhà lý luận và phê bình mỹ thuật
Tháng 12/2023, Khoa Lý luận, Lịch sử và Phê bình nghệ thuật của Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam kỷ niệm 45 năm thành lập. Theo chia sẻ của nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng (cựu sinh viên khóa 2) thì: “Sinh viên của khoa hầu hết ra trường đi dạy học và làm báo. Một số có được công trình nghiên cứu, như Trương Minh Hằng chủ biên tổng tập “Làng nghề Việt Nam truyền thống” rất giá trị; Phạm Thị Chỉnh với hai cuốn sách “Lịch sử mỹ thuật Việt Nam và Thế giới”; Phạm Trung tham gia hai công trình lớn là “Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, thế kỷ 20” và “Nghệ thuật đương đại Việt Nam”; Nguyễn Hải Phong cùng nhóm nghiên cứu có sách “Chạm khắc cổ qua các bản rập Việt Nam”; Phan Thanh Bình trở thành Hiệu trưởng Trường Đại học Nghệ thuật Huế và có các công trình nghiên cứu về khảm sành sứ Huế; Trang Thanh Hiền có sách “Tượng Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn” và “Cửu phẩm liên hoa”, Quách Thị Ngọc An có sách về “Lăng mộ hoạn quan thái giám thế kỷ 17, 18”... Điều đó cũng cho thấy những đóng góp không nhỏ của những người được đào tạo vào sự nghiệp nghiên cứu, phê bình và giảng dạy ở hầu hết các trường đại học, viện nghiên cứu thuộc lĩnh vực mỹ thuật...”.
Theo nhận định của một số nhà nghiên cứu mỹ thuật, đối với sinh viên được đào tạo ở chuyên ngành nghiên cứu lý luận phê bình, sau khi ra trường phải tiếp tục được đào luyện qua các cơ quan nghiên cứu văn hóa như Viện Nghiên cứu văn hóa (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) hoặc về đơn vị gắn bó mật thiết nhất với ngành là Viện Mỹ thuật. Tuy nhiên, có một điều đáng buồn là Viện Mỹ thuật trước đây sau khi được nhập về Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, được cơ cấu lại bộ máy tổ chức hành chính, chỉ còn như một phòng/ban với số lượng nghiên cứu viên hiện vỏn vẹn... 5 người và hầu như không có những hoạt động nghiên cứu được nhà nước đầu tư.
Có thể thấy, việc những năm gần đây thí sinh không lựa chọn ngành học này cũng là có lý do chính đáng của họ. Cơ hội việc làm cho các sinh viên mới ra trường của ngành Lý luận, Lịch sử và Phê bình nghệ thuật hiện nay cũng khá ít ỏi. Họ sẽ chủ yếu làm việc ở lĩnh vực báo chí, làm việc cho các phòng tranh, nhà đấu giá, trở thành các giám tuyển... nên trình độ sau khi tốt nghiệp không những không được nâng lên mà có khi còn bị thui chột đi khi không được sử dụng vào đúng chuyên môn, nghiệp vụ mà mình được đào tạo.
Một cá nhân rất khó có thể trở thành một nhà nghiên cứu độc lập nếu không có kinh phí, không có tư cách pháp nhân để đi đến các địa điểm nghiên cứu. Thực tiễn cho thấy, chỉ khi được tiếp tục nghiên cứu thông qua các chương trình hay dự án có sự hỗ trợ nguồn lực từ Nhà nước, từ chính sách thì mới có thể có được những công trình nghiên cứu có chất lượng, có giá trị, phục vụ cho sự phát triển của ngành mỹ thuật nói riêng và văn hóa nói chung.
PGS.TS Trang Thanh Hiền - giảng viên Khoa Lý luận, Lịch sử và Phê bình mỹ thuật.
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, ngành nghiên cứu lý luận và phê bình mỹ thuật thực sự rất cần thiết. Bởi, rõ ràng, công chúng thường xuyên tiếp nhận thông tin những sàn đấu giá trên thế giới liên tục có các phiên đấu giá về cổ vật, các tác phẩm mỹ thuật quý giá của Việt Nam, liên tục có các triển lãm của các họa sĩ, tác giả trưng bày... Nhưng, ngược lại, khó tìm được những bài viết nghiên cứu, lý luận, phê bình đúng mực, chuẩn xác, có trình độ chuyên môn sâu mà chủ yếu là các bài viết của các phóng viên theo dõi mảng mỹ thuật. Điều này làm vơi đi giá trị đích thực của tác phẩm hoặc di sản, thiếu đi những đánh giá thực thụ cho một sự phát triển lành mạnh, chuyên nghiệp.
Tôi đến một số nước, trong đó có Trung Quốc thì thấy rằng, nghiên cứu văn hóa - mỹ thuật cổ là một trong những điểm nhấn trong việc hội nhập với văn hóa toàn cầu của họ.
Nếu nền nghiên cứu và phê bình mỹ thuật được đầu tư xứng đáng ngay từ khâu đào tạo để phát triển tốt, thì sẽ là tiền đề cho khả năng quảng bá để đưa không chỉ mỹ thuật Việt Nam mà còn là hình ảnh của Việt Nam đi xa hơn nữa. Bởi, mỹ thuật chính là tấm gương phản chiếu văn hóa của một dân tộc, là biểu trưng cho sự nhận diện về bản sắc văn hóa truyền thống hay đương đại của một đất nước.
Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".
Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.
Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.
Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.
“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.
Trong mạch nguồn linh thiêng của những ngày tháng Ba âm lịch, khi cả dân tộc hướng về vùng đất kinh đô cổ, Triển lãm giao lưu mỹ thuật quốc tế "Dòng chảy văn hóa" đã diễn ra.
Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.
Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.
Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…
Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.
Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.
Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...
Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.
Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.
Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.
Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.
Nhà văn Nguyễn Chiến Thắng thường được đồng nghiệp, bạn đọc biết đến với bút danh Thăng Sắc. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nghỉ hưu và sống tại Hà Nội. Ông từng được trao giải Văn học sông Mekong năm 2010.
"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội) viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.
Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...