Nghĩ về câu: Trong thơ có họa

Có ai đó nói hay chính tôi nghĩ ra, cũng không nhớ nữa, rằng hình tượng thơ giống như cánh diều bay bổng trên cao, nhưng phải luôn nối với cái gốc là cái cọc cắm dưới đất. Nếu dây đứt, cái diều sẽ rơi, hoặc có bay đi tới đâu rồi cũng rơi xuống mà thôi. Cái gốc thực đó là những chi tiết cụ thể.

Nói đến chi tiết là nói đến quan sát. Trong "Tuỳ viên thi thoại", Viên Mai (đời Thanh) đã dành khá nhiều trang/dòng cho mục quan sát này ở trong thơ. Ông đã dẫn ra nhiều câu thơ lý thú, thể hiện khả năng quan sát tinh tế và khả năng sử dụng những quan sát đó để tạo ấn tượng của những người làm thơ xưa. Xin dẫn một vài câu còn nhớ được (chỉ dịch nghĩa, hoặc tóm tắt ý thơ để tránh dài dòng):

Thơ của Vi Ứng Vật đời Đường tả cảnh quạnh vắng của bến đò đồng (không phải bến đò ở sông, bến đò đồng nước không chảy, chỉ có sóng nhỏ và gió: - Lưu ý chữ: tự):

Dã độ vô nhân, chu tự hoành

(Đò đồng không có khách, con đò tự quay ngang).

Những quan sát có khi cụ thể đến như vẽ ra cảnh trước mắt:

Sơn như bình lập đương song kiến
Lộ tự xà toàn cách trúc khan

(Nhìn qua song cửa, núi như chiếc bình dựng đứng. Ngắm qua hàng trúc, con đường như rắn bò).

Hoặc có khi trừu tượng hơn, nhưng càng chính xác và tinh vi:

Tư kinh quá vũ phong do đãng 
Vị đáo hoa thời diệp tảo hương

(Dường như sau mưa, gió còn thổi
Chưa đến thì hoa, lá đã thơm).

Tinh vi đến mức, có nhà thơ làm 30 bài thơ vịnh trăng 30 đêm trong một tháng, đêm nào ra đêm ấy, vừa khác biệt về độ lớn, hình dáng, ánh sáng... vừa gợi lên được những cảm xúc khác nhau từ những liên tưởng rộng lớn và bất ngờ (tựa như câu "mồng một lá trai, mồng hai lá lúa..." của ta, nhưng là những bài thơ tứ tuyệt trọn vẹn và đầy đủ hơn). Phải có một khả năng quan sát tinh tế và tài làm chủ kỹ thuật lắm mới làm được điều này.

image001.jpg -0
Hình tượng thơ giống như cánh diều bay bổng trên cao, nhưng phải luôn nối với cái gốc là cái cọc cắm dưới đất.

Những dẫn chứng như thế có thể tìm thấy ở nhiều nhà thơ trên thế giới. Xin nhắc đến một người thôi: X. Exênhin. Exênhin là người theo chủ nghĩa hình ảnh. Thơ ông tràn ngập hình ảnh và do đó, như trên đã nói, cũng tràn ngập chi tiết. Thơ ông là sự móc nối liên tục cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại. Trong bài thơ "Con con chó", nhà thơ kể lại: Khi còn trẻ, ở quê, ông phải lòng một cô hàng xóm và thường nhờ một con chó làm người đưa thư. Mối tình không thành, ông ra đi và bao năm sau trở lại quê nhà, trong lòng còn bồi hồi những kỷ niệm cũ, một con chó nhỏ xồ ra đón ông và ông nhận ra ngay nó là con của con chó ngày xưa nhờ màu lông quen thuộc nhưng đã nhạt bớt do quy luật di truyền và biến dị của thiên nhiên. Câu thơ vốn rất giàu từ ngữ, ý tứ súc tích, khi dịch tôi đã cố lắm mới dồn được vào trong một dòng:

Con nó đấy, màu lông quen đã nhạt

Chỉ với mấy mấy "màu lông quen đã nhạt", câu thơ đã móc nối được bao mối tương quan giữa cái nhất thời và cái vĩnh cửu, cái bất biến và cái khả biến, cái sợi dây xuyên suốt vừa như mỏng mảnh vừa vô hạn bền chặt có tên gọi là thời gian... Từ một quan sát bề ngoài đã mở ra một thế giới bên trong phong phú và chính xác. Và đến cảm nhận này của nhà thơ thì quả là thiên tài:

Và nỗi đau này tôi dường như trẻ lại

Gọi là quan sát cũng được mà gọi là chiêm nghiệm cũng được. Trong thơ Việt Nam hiện đại, xu hướng địa chi tiết vào thơ cũng rất phát triển, thậm chí đến ồ ạt. Có thể do quan niệm phần nào máy móc về chức năng phản ánh hiện thực của văn học, hoặc do thực tế cuộc sống suốt mấy chục năm qua quá bề bộn và có sức lay động mạnh, nên các nhà thơ ta đã hết sức hào phóng để tràn ngập vào các trang thơ đủ mọi thứ chuyện đời, chuyện người của không thiếu một vùng đất, một lứa tuổi, một ngành nghề, một công việc... nào trong đời thật. Sự lạm dụng chi tiết thực đó dẫn đến những con bệnh như tự nhiên chủ nghĩa, chi tiết thiếu chọn lọc, không điển hình, không có sức liên tưởng và gợi mở... và biến thơ thành một loại hình văn xuôi có vần ở mức độ đôi khi giáp ranh với báo chí.

Nhưng thôi, điều này chỉ là sản phẩm của một thời và nhiều người cũng đã nói đến. Việc làm có ích hơn là "gạn đục khơi trong" để giữ lấy những gì còn có giá trị đến hôm nay - và nếu còn được đến mai sau thì càng tốt. Cũng chỉ xin đưa một vài dẫn chứng trong số này và tất nhiên là còn rất tuỳ tiện.

Một trong những nhà thơ thành công nhất trong việc đưa chi tiết vào thơ là Hữu Thỉnh, với trường ca "Đường tới thành phố", chẳng hạn những câu diễn tả nỗi cô đơn, buồn tủi của người vợ xa chồng đằng đẵng:

- Một mình một mâm cơm
Ngồi bên nào cũng lệch. . .
- Chị thiếu anh nên chị bị thừa ra
Trong giỗ, tết họ hàng nội ngoại
- Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy
Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc!

Thật là những chi tiết giúp cho người viết kiệm lời mà nói được bao điều.

Hình ảnh sau đây trong trường ca "Những người đi tới biển" của Thanh Thảo, để tả giây phút người nghệ sĩ bất ngờ trúng đạn ngã xuống:

Tay chầm chậm buông rơi tàu dừa nước

Đằng sau cái động tác đơn giản, cái bề ngoài rất nhẹ, rất khẽ, rất chậm... chất chứa cả một tấn kịch khổng lồ, một giây phút đầy đột biến, một sức nặng ngàn cân - nó cô đúc và có sức gợi hình như một cận cảnh, một trường đoạn trong phim. Thanh Thảo còn nhiều chi tiết tinh tế như thế, trong đó có một câu chắc nhiều bạn đọc đã biết:

Xin mẹ cứ nhai trầu cho buổi chiều yên tĩnh

Thực ra, những hình tượng thơ này không còn nằm trong phạm vi của khái niệm quan sát, hiểu theo nghĩa đen. Ở đây không còn là cảm nhận của những giác quan. Tuy  nhiên, cái gốc thực của chúng vẫn bắt đầu từ một quan sát.

Những chi tiết được sử dụng tài tình như thế trong thơ ta chắc không phải ít. Với sức cảm nhận có hạn và cũng vì khuôn khổ bài viết, tôi không thể trích thêm. Tuy vậy, cầm lòng không đậu, xin cho tôi được nhắc đến một câu nữa, ấy là câu thơ của Nguyễn Duy, trong "Trắng... và trắng…", một  bài thơ viết về tuyết tuyệt đẹp. Cũng là một người thợ chơi hình ảnh và chi tiết, Nguyễn Duy đã tạo được những cảm giác bất ngờ đúng là của một người lần đầu nhìn thấy tuyết, mà đẹp nhất, gợi nhất, tài nhất thì chắc chắn là câu sau đây: 

Hình như gò trắng, phập phồng
Bao nhiêu con gái ngủ trong tuyết dày.

(Theo thiển ý của tôi, giá như đổi chữ "tuyết dày"  thành "tuyết này" thì còn ấn tượng hơn).

Thật đúng như tiền nhân đã  nói - "trong thơ có họa" là như thế.

Anh Ngọc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).