Những vị quan đầu tiên nghỉ hưu
Các quan thời xưa nghỉ hưu như thế nào? Nguyên từ thời Đinh, Tiền Lê, Lý, các quan thường phục vụ trong triều đến trọn đời. Thời xưa, tuổi thọ chung của toàn dân đều ngắn, nên cũng hiếm có vị quan nào tòng sự đến lúc "chân mỏi mắt mờ", phải xin vua về quê hưu trí.
Vị quan đầu tiên về hưu, được chính sử nước ta ghi lại, có lẽ là vị Thái phó Lý Du Đô, thời Vua Lý Anh Tông. Chức Thái phó thời Lý là quan to đầu triều, chịu trách nhiệm phò tá nhà vua và nuôi dạy thái tử, là chức vị thuộc hàng tam công, chỉ dưới Thái sư và Thái bảo. "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: Năm Đại Định thứ 17 (1156), Thái phó Lý Du Đô dâng sớ xin hưu trí, vua cho ông thăng lên chức Thái sư, ban cho vàng bạc về quê.
Đến năm Chính Long Bảo Ứng thứ 7, cũng dưới thời Vua Lý Anh Tông (1169), tức là 13 năm sau, sử viết: "Thái sư trí sĩ là Lý Du Đô chết". Sử không cho biết vị thái sư này thọ bao nhiêu tuổi.
Đầu triều Trần, sử sách cũng không ghi có vị quan nào nghỉ hưu, chỉ có câu chuyện Thái sư Trần Thủ Độ "dằn dỗi" nói với Vua Trần Thái Tông, khi nhà vua muốn bổ nhiệm anh của ông là Trần Anh Quốc cùng làm Tể tướng, rằng: "An Quốc là anh thần, nếu cho là giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra làm sao?".
Tất nhiên, sau đó Vua Trần Thái Tông không bổ nhiệm Trần An Quốc nữa, và Trần Thủ Độ tiếp tục làm Tể tướng cho đến khi qua đời ở tuổi 70.
Vị quan triều Trần đầu tiên về trí sĩ có lẽ là Hành khiển Nguyễn Kim Ngô. Trong triều đình nhà Trần, Hành khiển là chức quan chỉ dưới Tể tướng. "Toàn thư" chép sự kiện năm Hưng Long thứ 14 (1306), dưới thời Vua Trần Anh Tông: "Hành khiển trí sĩ Nguyễn Kim Ngô về chầu, tự xưng là Liễu Nhiễu. Kiên Ngô tính thẳng thắn, vua ưu đãi, quý trọng, không gọi tên để khuyến khích những người tuổi già vẫn giữ quyền vị". Nhưng, tra ngược trong chính sử thì lại không thấy chép vị quan này về trí sĩ từ khi nào.
Ngày nay chúng ta cũng không rõ "lương hưu" của các vị quan trí sĩ thời xưa như thế nào. Có lẽ, họ chỉ hưởng lộc từ các điền trang hay thu thuế của dân các làng xã mà nhà vua ban cho để nuôi gia đình.
Nghỉ vì thời thế
Cuối thời Trần, do tình hình có nhiều biến động, mới có vị quan đầu triều xin trí sĩ. Đó là vị Tư đồ Trần Nguyên Đán, vào năm Xương Phù thứ 9 (1385), đời Vua Trần Phế Đế. Tư đồ là chức quan chỉ đứng dưới hàng tam thái, tam thiếu. Sử viết: "Mùa thu, tháng 7, Tư đồ Chương Túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán trí sĩ lui về Côn Sơn".
Có lẽ, sử quan thời sau muốn làm nổi bật hơn nữa tình hình thế sự lúc bấy giờ, khi Hồ Quý Ly đang ra sức lấn quyền các vua Trần, thâu tóm hết quyền bính, các quan đầu triều chỉ còn ngồi làm vì, nên chép chi tiết chuyện này rằng: Trần Nguyên Đán trước khi về nghỉ, gửi cho các bạn làm quan bài thơ, có câu rằng: "Kim cổ hưng vong chân khả giám. Chư công hà nhẫn gián thư hy?" (Còn mất xưa nay gương đã rõ. Các ông sao nỡ vắng thư can?).
Thái úy Trang Định vương Trần Ngạc có bài thơ tặng ông rằng: "Ngã thị đương niên khí vật/ Công phi đại hạ kỳ tài/ Hội thủ nhất ban lão bệnh/ Điền viên tảo biện quy lai". (Ngày nay tôi là đồ bỏ. Ông không tài lạ cứu đời. Cùng một lớp già đau ốm, Ruộng vườn sớm liệu về thôi).
Các sử quan giải thích thêm cho sự kiện ấy rằng: Bởi vì khi ấy Hồ Quý Ly đang giữ quyền binh, các bậc hiền nhân quân tử buồn lo thời thế, không thể không biểu hiện ra câu thơ.
Dù về trí sĩ nhưng Trần Nguyên Đán vẫn được Thượng hoàng Trần Nghệ Tông ưu ái, thường xuyên ngự đến nhà riêng của ông để thăm bệnh và hỏi việc sau này. Tuy nhiên, Trần Nguyên Đán khôn khéo không nói gì, chỉ thưa chung chung rằng: "Xin bệ hạ kính nước Minh như cha, yêu Chiêm Thành như con, thì nước nhà vô sự. Tôi dầu chết cũng được bất hủ".
Nhờ các "trốn đời" khéo léo này, mà Trần Nguyên Đán yên ổn sống cho đến khi qua đời năm 1390, tức ông nghỉ hưu được 5 năm thì mất, dù lúc đó ông mới 65 tuổi. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông có làm bài thơ đề trên mộ ông.
Sau Trần Nguyên Đán, năm Xương Phù thứ 12 (1388), viên Nhập nội hành khiển tả ty Vương Nhữ Chu cũng xin về trí sĩ, triều đình lấy Lê Dũ Nghị lên thay.
Nhà Trần cũng chỉ tồn tại được đến năm 1400, rồi bị Hồ Quý Ly cướp ngôi.
Nhưng, không chỉ thời mạt quan lại mới xin rũ áo về quê. Ngay cả sau cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, những công thần hàng đầu của cuộc khởi nghĩa như Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, dù đã sáng suốt lo xa việc nhà vua "hết thỏ, bỏ cung" đã xin về quê an dưỡng, cuối cùng đều không tránh được kết cục bi đát.
Nghỉ hưu thời Lê
Ngoài các công thần của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đầu triều Vua Lê Nhân Tông, sử Việt có viết về động thái của một số quan lớn có ý định về trí sĩ, nhưng được cho là "không thành thật". Đó là năm Thái Hòa thứ 7 (1449), sử viết: "Bọn Tả hữu nạp ngôn Nguyễn Mộng Tuân, Nguyễn Truyền, Nguyễn Viết và bọn Nhập thị kinh diên Đào Công Soạn, Nguyễn Tử Tấn đều cùng xin trí sĩ, nhưng còn tiếc lộc vị, chưa muốn về, thấy vua một lần không cho, chỉ lạy tạ mà thôi".
Để phê phán "động thái" xin trí sĩ giả này của các vị quan nói trên, các sử quan triều Lê bổ sung thêm câu bình luận: "Sau (bọn họ) lại rủ nhau làm lễ tạ ơn thì chân tướng lộ rõ, người đương thời cười chê".
Sử triều Lê cũng chép về sự kiện ở thời nhà Mạc "tiếm ngôi", một vị công thần của triều Mạc là Sách quốc công Giáp Trừng về trí sĩ, năm Diên Thành thứ 8 (1585), đời Vua Mạc Mậu Hợp. Giáp Trừng vốn tên là Giáp Hải, đỗ trạng nguyên triều Mạc, sau vì trùng tên với Vua Mạc Phúc Hải nên đổi tên thành Giáp Trừng. Ông từng làm quan trải nhiều chức Thượng thư, rồi Chưởng lục bộ sự (cai quản cả 6 bộ). Một số sử sách triều Mạc cũng cho biết, từ năm 1581, Giáp Trừng đã xin về quê ở Dĩnh Kế, Bắc Giang để trí sĩ, nhưng sau đó lại được vua Mạc mời ra để giúp bàn kế sách.
Còn ở triều Lê trung hưng, theo sách "Nhân vật chí" trong bộ "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú, thì mãi đến đời Vua Lê Thần Tông, mới có vị đại quan hưu trí. Sách này viết: "Năm Đức Long Giáp Tuất (1634), Nguyễn Thực được thăng Thái phó, Thượng thư Bộ Hộ, rồi được cho nghỉ hưu. Năm đó ông đã 80 tuổi. Nhà Lê từ lúc trung hưng đến đó, làm quan đến chức thượng thư rồi về hưu trí, bắt đầu từ ông là đầu tiên". Nguyễn Thực là người xã Vân Điềm, huyện Đông Ngàn, nay là Đông Anh, Hà Nội.
"Đại Việt sử ký toàn thư" cũng viết: "Đông các học sĩ quốc lão tham dự triều chính; Thái bảo Lang quận công Nguyễn Thực thăng Hộ Bộ Thượng thư thái phó, trí sĩ. Từ khi bản triều khôi phục đến đây, Thượng thư quốc lão về trí sĩ bắt đầu từ Nguyễn Thực".
Đến tháng 11 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), quan trí sĩ Nguyễn Thực qua đời, thọ 83 tuổi. Triều đình tặng ông chức Thái tể, ban thụy hiệu là Trung Thuần.
Sau ông gần 30 năm, mãi đến thời Vua Lê Thần Tông, năm Vĩnh Thọ thứ 4 (1661), mới có một vị quan lớn về trí sĩ. Sử ghi: "Tháng 6, gia phong Hộ Bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện thị giảng chưởng Hàn lâm viện sự Thiếu bảo Bạt quận công Dương Trí Trạch làm Lại Bộ Thượng thư quốc lão thái bảo cho về trí sĩ".
Đến tháng 7 năm sau thì Dương Trí Trạch qua đời, được tặng Thái tể. Ông thọ 76 tuổi, tức khi về hưu đã 75 tuổi.
Đời Vua Lê Huyền Tông, tháng 4 năm Cảnh Trị thứ 3 (1665), khi tả thị lang Bộ Lễ, Từ Liêm hầu Nguyễn Khả Trạc xin trí sĩ và được vua y cho, sử ghi rõ lý do là "vì tuổi già". Lúc đó ông cũng mới khoảng 67 tuổi, đâu đến mức già như Nguyễn Thực hay Dương Trí Trạch. Có lẽ, Nguyễn Khả Trạc được vua ưu ái, nên không những được gia thăng hàm Thượng thư Bộ Công, tước Từ quận công, lại cấp cho điền lộc để dưỡng già.
Nghỉ hưu rồi, lại vời ra làm quan
Thời Vua Lê Kính Tông, niên hiệu Hoằng Định năm thứ 15 (1614), "Toàn thư" chép sự kiện vào tháng Giêng, Thượng thư Bộ Binh trí sĩ lại gọi ra làm việc tước Văn Phong hầu Bùi Bỉnh Uyên mất, thọ 95 tuổi, được tặng Thiếu bảo, ban thụy là Cung Ý.
Bùi Bỉnh Uyên là con của Tả thị lang Bùi Vịnh, con rể danh tướng Lê Bá Ly, đã đem cả tông tộc bỏ nhà Mạc về theo triều đình vua Lê, chúa Trịnh, làm quan đến chức Thượng thư. Con gái ông được tuyển vào hầu trong vương phủ, phong đến chiêu dung, sinh được 14 vương tử, đều được phong tước công. Con trai ông có 7 người thì người tước hầu, 3 người tước quận công. Cả nhà quý hiển, đứng đầu các vọng tộc ở Sơn Nam, nên việc ông được "gọi ra làm việc" đến tận tuổi 95 cũng không phải là lạ.
Năm Cảnh Trị thứ 6 (1668), khi Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại kiêm Đông các đại học sĩ thiếu bảo Yên quận công Phạm Công Trứ xin nghỉ việc. Chúa Trịnh Tạc đã úy lạo, dụ ở lại. Do Phạm Công Trứ khẩn thiết cố xin, chúa mới cho, gia thăng ông làm quốc lão thái bảo tham dự triều chính trí sĩ.
Đến năm Dương Đức thứ 2 (1673), tháng 7, Phạm Công Trứ lại được gọi vào triều giữ việc 6 bộ, tham tán cơ vụ.
Tháng 10 năm Đức Nguyên thứ 2 (1675), Phạm Công Trứ qua đời ở tuổi 76. Sử quan đánh giá: Công Trứ là người sâu sắc, điềm tĩnh, giản dị, chắc chắn, làm việc có mưu thuật, giúp Vương từ tiềm để, mưu tính nhiều việc, giúp việc nước lâu ngày luật pháp, chế độ có nhiều đổi mới, thọ 76 tuổi: tặng Thái tể ban thụy hiệu là Trung Cần.
Cuối thời Lê trung hưng, cũng có nhiều vị đại quan đã về hưu rồi lại được gọi ra làm việc triều chính. Như Tể tướng Nguyễn Nghiễm (1708-1776), năm 1771 đã xin về hưu, được làm Đại tư đồ, nhưng chỉ vài tháng sau lại được vời ra làm Tể tướng rồi đổi sang làm Thượng thư Bộ Hộ, rồi trao chức Tả tướng quân đi đánh Đàng Trong. Ông mất trong quân doanh ở tuổi 68.