Thời Đinh, Tiền Lê, cả đạo Phật và đạo Lão đều có ảnh hưởng sâu sắc. Do đó, nếu đọc trong “Đại Việt sử ký toàn thư”, ta thấy khi Vua Đinh Tiên Hoàng mới lên ngôi, năm Thái Bình thứ 2 (971), bắt đầu quy định cấp bậc văn võ trong triều, thì đồng thời cũng định luôn cấp bậc của tăng và đạo. Vị Tăng thống (người đứng đầu các chức sắc Phật giáo) Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, sư Trương Ma Ni làm chức Tăng lục (chức quan trông coi Phật giáo dưới chức Tăng thống), còn Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng chân uy nghi, là chức quan trông coi về Đạo giáo. Điều đó cho thấy trong triều đình Đại Cồ Việt của vua Đinh, Đạo sĩ có vị thế cao nhưng vẫn xếp sau Phật giáo.
Sang đến thời Lý, Nho giáo bắt đầu có vị thế, triều đình có sự dung hợp các tôn giáo với tư tưởng "Tam giáo đồng nguyên" (Phật, Lão, Nho cùng chung một cội nguồn). Triều Lý chỉ còn có các vị Quốc sư Phật giáo mà không còn có quan chức về Đạo giáo như thời Đinh nữa.
Mặc dù vậy, vị trí của Đạo giáo vẫn còn rõ nét, điển hình như khi viết về “chân mệnh thiên tử” của Vua Lý Thái Tông, bên cạnh mô tả nhà vua “bẩm tính nhân từ, sáng suốt đĩnh ngộ, thông hiểu đại lược văn võ, còn như lục nghệ lễ nhạc, ngự xạ, thư số không môn gì là không tinh thông am tường”. Sử còn chép thêm chi tiết: “Khi vua lấy áo ngự ban cho Trần Tuệ Long là đạo sĩ ở quán Nam Đế. Đêm ấy có ánh sáng khắp trong quán. Tuệ Long kinh ngạc dậy xem thì thấy rồng vàng hiện ở mắc áo. Các việc ấy đều là mệnh trời, đến đây đều thấy phù hợp cả”.
Năm Thiên Thành thứ 4 (1031), tháng 10, đạo sĩ Trịnh Trí Không tâu xin vua cho các đạo sĩ được nhận ký lục (đăng ký tu hành chính thức) ở cung Thái Thanh. Vua Lý Thái Tông đã y cho.
Đời Vua Lý Anh Tông, năm 1169, vào tháng 3 âm lịch, ngày rằm, có nguyệt thực, cá ở cửa biển chết rất nhiều. Nhà vua đã sai cả tăng ni, đạo sĩ các chùa quán ở Kinh và các nơi tụng kinh cầu đảo để cho thiên tai mau hết. Sau này, chuyện tương tự cũng diễn ra ở triều Lê sơ, đời Vua Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 8 (1467), khi có dịch sâu ăn lúa, nhà vua đã sai đạo sĩ cúng trừ sâu.
Nhân vật hoàng tộc có dính líu đến Đạo giáo nhiều nhất có lẽ là Hoàng tử Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Người con trai thứ 6 của Vua Trần Thái Tông này sinh năm Nguyên Phong thứ 5 (1255). Khi ấy, “Toàn thư” chép: “Trước đó, đạo sĩ cung Thái Thanh tên là Thậm cầu tự cho vua. Đọc sớ xong, đạo sĩ tâu vua: "Thượng đế đã y lời sớ tấu, sắp sai Chiêu Văn đồng tử giáng sinh, ở trần thế bốn kỷ (mỗi kỷ là 12 năm)". Thế rồi hậu cung có mang, sau quả nhiên sinh con trai, hai cánh tay có chữ "Chiêu Văn đồng tử", nét rất rõ, vì thế vua cho đặt hiệu là Chiêu Văn. Khi ông lớn lên, nét chữ mới mất đi.
Đến năm Trần Nhật Duật 48 tuổi (là tròn 4 kỷ), bị ốm hơn 1 tháng, các con ông làm chay, xin giảm tuổi thọ của mình để kéo dài tuổi thọ cho cha. Đạo sĩ đọc sớ xong, đứng dậy nói: “Thượng đế xem sớ xong, cười bảo: "Sao hắn quyến luyến trần trục muốn ở lại lâu thế, nhưng các con hắn thực lòng hiếu thảo, cũng đáng cho. Thôi cho thêm hai kỷ nữa"”. Bệnh của ông liền khỏi. Sau này, Trần Nhật Duật thọ đến 77 tuổi, tức là được đủ 6 kỷ lẻ 5 năm.
Bình luận về chuyện này, sử thần Ngô Sĩ Liên thời Lê viết rằng: “Việc đạo sĩ cầu tự, cho là đúng như thế chăng? Thì đạo trời xa, không thể biết được. Cho là không như thế chăng? Thì lòng thành cảm hóa, xa mấy mà chẳng tới được. Song, khi đạo sĩ rạp lạy đợi mệnh trời, có lẽ trời hiện chiêm bao để bảo cho. Kể ra số và lý nương tựa lẫn nhau, lý sinh ra từ số, số cũng chưa bao giờ không sinh ra từ lý, mệnh dài ngắn là số, lòng hiếu thành là lý. Có người bảo rằng đạo sĩ có thể nắm tính mạng bay lên được, nhưng tôi không tin”.
Tuy nhiên, sử sách triều Lê, khi viết về sự ra đời của Lê Thánh Tông, vị vua nổi tiếng tôn sùng Nho học, thì cũng gắn với sự tích Thượng đế ban con khi mẹ vua là bà Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao đi cầu tự.
Còn trở lại chuyện Trần Nhật Duật, có lẽ sử triều Trần viết rõ sự tích sinh ra ông như vậy, vì sau này sử viết: Ông lại thiệp liệp sử sách, rất hâm mộ Đạo giáo, thông hiểu các kinh điển Đạo giáo điển, nổi tiếng đương thời là người uyên bác. Đặc biệt “Toàn thư” còn có thêm chi tiết: Lúc Vua Trần Minh Tông còn nhỏ, bị ốm, từng sai ông làm phù phép trấn áp cho yên. Trần Nhật Duật đã “mặc áo lông đội mũ, trông như đạo sĩ”. Có lẽ, ông học được phép trấn áp thật.
Còn sang đời Vua Trần Anh Tông, năm Hưng Long thứ 10 (1302), “Toàn thư” chép chuyện có người đạo sĩ phương Bắc là Hứa Tông Đạo (người Phúc Kiến) theo thuyền buôn sang ta, vua cho ở bến sông Yên Hoa (Yên Phụ ngày nay). Từ đó, phép phù thủy, đàn chay bắt đầu thịnh hành trong nước.
Các nhà khoa học ở Viện Sử học cho rằng, đó là chuyện sử quan chép trong “Toàn thư”, còn theo bài minh khắc trên chuông Thông Thánh Quán ở Bạch Hạc (Việt Trì), do chính Hứa Tông Đạo soạn năm Đại Khánh thứ 8 (1321), thì ông đã đến Đại Việt từ năm Bính Tý (1276).
Năm Hưng Long thứ 18 (1310), khi triều đình tổ chức đám rước linh cữu Thượng hoàng Trần Nhân Tông về táng tại lăng Quy Đức (Long Hưng, Thái Bình), đã phải nhờ công của viên Chi hậu thánh chưởng Trịnh Trọng Tử để dẹp người dân đến xem quá đông. Sử sách cũng ca ngợi Trọng Tử là người thông minh, khéo léo, việc gì nhìn qua cũng học được. Như ông thường mời đạo sĩ làm phép trấn yểm, đạo sĩ vào chỗ ngồi, nhưng mọi việc đều do Trọng Tử làm cả, mà đạo sĩ thì không phải nói một lời nào.
Vua Trần Dụ Tông, vào năm cuối đời (1368), tháng 10, đã cho mời đạo sĩ Huyền Vân ở núi Chí Linh đến kinh để hỏi về phép tu luyện, rồi ban cho động của đạo sĩ tên là "Huyền Thanh động". Nhưng việc tu luyện của nhà vua chưa đạt kết quả, đến tháng 5 năm sau, nhà vua đã băng hà.
Nếu cuối triều Lý, Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông đi tu theo Phật giáo để chuẩn bị cướp ngôi, thì cuối đời Trần, Hồ Quý Ly lại ép Vua Trần Thuận Tông đi tu theo Đạo giáo. Sử viết, tháng 3 năm Quang Thái thứ 11 (1398), để bức vua phải nhường ngôi cho hoàng tử An (tức vua Trần Thiếu Đế), Hồ Quý Ly đã sai đạo sĩ Nguyễn Khánh ra vào trong cung, thuyết phục vua rằng:
"Cõi tiên thanh nhã thơm tho, khác hẳn phàm trần, Liệt thánh triều ta chỉ thờ đạo Phật, chưa có ai đi theo chân tiên. Bệ hạ được tôn ở ngôi cửu ngũ, nhưng muôn việc khó nhọc, chi bằng truyền ngôi cho Đông cung để giữ khí hư hòa".
Vua phải nghe lời, rồi Nguyễn Khánh làm lễ tâu ghi vào sổ phụng đạo vào cõi tiên. Hồ Quý Ly làm cung Bảo Thanh ở phía tây nam núi Đại Lại ở thành Tây Đô, mời vua tới ở đó. Vua bèn nhường ngôi cho hoàng thái tử. Tờ chiếu nhường ngôi đại lược nói:
"Trẫm sớm mộ huyền phong (phong cách thanh tao của Đạo giáo), không có bụng muốn ngự xe hoàng ốc (xe dành riêng cho vua). Đức kém lạm giữ ngôi cao, thực khó lòng kham nổi. Huống chi tâm bệnh thường hay phát ra, việc tông miếu và chính sự do đấy đều bị trở ngại. Lời thề nguyền trước, trời đất quỷ thần đều đã nghe. Nay phải nhường ngôi để giữ mãi cơ đồ to lớn, Hoàng thái tử An hãy lên nối ngôi Hoàng đế. Phụ chính Thái sư Lê Quý Ly lấy danh nghĩa Quốc tổ giữ quyền nhiếp chính. Trẫm tự làm Thái Thượng Nguyên Quân Hoàng Đế, tu dưỡng ở cung Bảo Thanh để thỏa ý nguyền từ trước".
Sang đến đầu thời Lê sơ, Đạo giáo vẫn còn có ảnh hưởng trong triều đình. Như năm đầu đời vua Lê Thái Tông, khi Thái sử Bùi Thì Hanh tâu có nhật thực vào ngày mồng 1, tháng 5 năm Thiệu Bình thứ nhất (1434) đã xin vua cho nghỉ chầu, làm phép trấn yểm trong cung cấm, các quan không một ai được biết. Thì Hanh chỉ tâu cho Thị lang bộ Lễ là Trình Toàn Dương, trước là đạo sĩ, cùng làm phép với mình. Sau đó, cả hai người đều được nhà vua thưởng rất hậu.
Sau sự kiện nêu trên, sử sách không còn chép về chuyện Đạo giáo và đạo sĩ nữa. Mãi đến đời Vua Lê Hiến Tông, trong khoa thi năm Cảnh Thống thứ 5 (1502), đỗ đầu (Trạng nguyên) là Lê Ích Mộc (người Thanh Lăng, huyện Thuỷ Đường, Hải Dương, nay là Hải Phòng), thì tiểu sử cho biết Lê Ích Mộc trước làm đạo sĩ. Khi công bố bảng vàng, vua sai tuyên đọc chế từ, ông bưng lư hương cháy rực lửa ra trước, bị bỏng tuột cả tay mà không biết.
Đời vua Lê Uy Mục, nhà vua nghi kỵ tất cả mọi người, nên đã xua đuổi người tôn thất và công thần về xứ Thanh Hóa và giết các nữ sử nội thần người Chiêm. Các nhà pháp thuật bị cấm làm phù chú, đạo sĩ thờ đạo phải cắt tóc không được để dài. Do vậy, các phố xá, hàng chợ nhà nào thờ tiên sư đều phải cất giấu đi hết.
Đạo sĩ vẫn có vị trí trong đời sống xã hội vào thời Lê trung hưng. Như theo chính sách thuế thân ban hành năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625), đời vua Lê Thần Tông, thì phải nộp thuế cao nhất hạng lính không tòng chinh mỗi người nộp 3 quan mạch; hạng quân mỗi người nộp 1 quan 5 mạch; hạng dân mỗi người nộp 1 quan 2 mạch 30 đồng; sinh đồ, cựu tướng thần, xã trưởng, hạng lão, hạng dưới 18 tuổi, lệnh sử, điển lại, thông lại đang làm việc và nhà sư, đạo sĩ, giáo phường mỗi người nộp 1 quan tiền, người tàn tật nộp 8 mạch. Các quan viên, giám sinh, lão nhiêu, đàn bà goá đều được miễn thuế thân. Như vậy, mức thuế dành cho nhà sư và đạo sĩ đều rất ưu đãi.