Nghệ thuật tạo hình điêu khắc Phật động chùa Kiến Sơ - Hà Nội

Tạo hình tượng Phật động chùa Kiến Sơ mang tính đặc trưng của tín ngưỡng dân gian, bộc lộ sự hồn nhiên, mộc mạc. Ở đây tượng đơn giản về cấu trúc, giản lược về chi tiết... Trang phục trên tượng được thể hiện khái quát nhưng vẫn rõ nét và ấn tượng bởi những điểm nhấn của hình và khối.

Ngoài các tượng phổ biến như tượng Phật và Bồ Tát, Hộ Pháp, Chư thiên, tượng ở Phật động chùa Kiến Sơ nổi bật lên tính truyền thống của người Việt qua từng giai đoạn lịch sử.

Tượng Đức Phật, hình dáng tượng Phật, tọa thiền trên đài sen, tay cầm bông sen vàng hay được gọi là tượng Phật Niêm Hoa Vi Tiếu với ý nghĩa khẳng định nguồn mạch Thiền tông được truyền từ Phật Tổ Bổn Sư Thích Ca, qua các vị Tổ sư mà lưu truyền đến tận ngày nay. Nhìn chung về bố cục, tượng Phật được đặt ở giữa, 2 bên sẽ là các nhân vật phù trợ như tượng các vị thần tiên tấu nhạc, A nan và Ca diếp, Văn Thù Phổ Hiền, Bồ Tát Quan Âm và Bồ Tát Đại thế chí… Kích thước tượng Phật thường được tạo hình lớn hơn các tượng phù trợ và đặt ở giữa trung tâm của tầng trên Phật động. Ý nghĩa mang đến sự bình an, nhẹ nhàng, tĩnh lặng.

tượng phật niêm hoa vi tiếu chùa kiến sơ.jpg -0
Tượng Phật Niêm Hoa Vi Tiếu chùa Kiến Sơ.

Tượng Di Lặc được đặt ở giữa, đây là pho tượng xuất hiện khá muộn, khoảng  thế kỷ 18 trở đi, ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc. Di Lặc được coi là vị Phật của tương lai, được tạc dưới hình tướng to béo, hoan hỉ và lạc quan. Là sự thể hiện của ước vọng với ý nghĩa viên mãn cả về vật chất và tinh thần. Tượng Di Lặc được tạc theo thế ngồi một chân chống, chân kia khoanh, người hơi ngả về phía sau. Ở đây tạo tượng quan trọng nhất là thần thái của pho tượng với nụ cười rạng rỡ, hỷ xả với khối căng, tròn đầy.

Tượng Tuyết Sơn, về bố cục tượng và hình dáng tượng Tuyết Sơn ở chùa Kiến Sơ được thể hiện theo ba dạng cơ bản về tổng thể là bố cục tượng Tuyết Sơn ngồi trên đài sen, trong hang đá. Với tạo hình tỷ lệ to từ gương mặt cho đến thân hình tượng, tượng biểu hiện sự khắc khổ tu khổ hạnh. Từ bỏ cuộc sống an nhàn, hưởng lạc, từ bỏ cuộc sống và tu khổ hạnh để ngộ nhận ra sự an vui, an nhiên của cuộc sống.

Nhìn chung, dù ở hình dáng tạo hình nào vẫn lựa chọn từ con người thực tế để thể hiện nhân vật là đức Thích Ca trong giai đoạn tu khổ hạnh. Với bố cục ngồi trên bệ vuông thì chuyển động của cơ thể đã thay đổi nhiều về bố cục các chi tiết đã vươn ra ngoài khối lớn nhưng tư thế vững chắc thoải mái, tự nhiên. Bố cục tượng Tuyết Sơn ngồi trên đá và trong hang đá đã truyền tải, kể được nhiều hơn cho người xem về quang cảnh, câu chuyện lúc nhân vật Thích Ca tu khổ hạnh ở núi Tuyết. Tượng Tuyết Sơn ở đây chỉ tập trung vào dáng thế, khối hình tỷ lệ và tinh thần của nhân vật. Với bố cục đi sâu vào truyền tải sự đau đớn về thể xác, bố cục của tượng mang tính chất kể truyện về nhân vật hơn là lý tưởng hóa nhân vật.

Tượng Bồ Tát, với gương mặt từ bi, tạo hình áo mềm mại. Đa phần về chi tiết thường được làm to hơn so với tỷ lệ, cách tạo hình không tuân thủ tuyệt đối về giải phẫu nhưng khi làm được dựa theo kinh nghiệm, sự tích lũy dân gian, tạo sự thuận mắt thuận tình về nhân vật, và sự thay đổi về kích thước phụ thuộc vào nhiều yếu tố và bối cảnh xung quanh, như không gian và vị trí của tượng. Tượng Bồ Tát nói chung, tượng Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Tọa Sơn, Quan Âm Tống Tử… với sự tiêu biểu cho đức từ bi, người quan sát và lắng nghe âm thanh của con người để cứu giúp chúng sinh, muôn loài.

Tượng Bồ Tát Văn Thù - Phổ Hiền, đây là hai ngài tượng trưng cho lý trí - định tuệ. Thường thấy tượng Văn Thù cưỡi sư tử xanh hầu ở bên trái tượng đức Như Lai, tượng Phổ Hiền cưỡi voi trắng hầu ở bên phải. Ở đây, người và thú gắn kết hữu cơ với nhau tạo thành một chỉnh thể trong bố cục khối hình tam giác, tất cả đều được tả thực. Hai vị Bồ Tát ở tư thế đăng đối nhau, ngồi tĩnh lặng, nhìn thẳng, thân mình chắc đậm, mặt trái xoan, cùng búi tóc nhô ở đỉnh đầu rồi chụp lên một vành mũ có nhiều trang trí.

tượng di lặc chùa kiến sơ.jpg -0
Tượng Di Lặc Chùa Kiến Sơ.

Tượng Hộ Pháp, trong những ngôi chùa theo dòng phái Bắc Tông thường thờ tượng hai vị thần: Thiện thần và Ác thần... Tạo hình tượng nhân vật với kích thước to lớn hơn người thường và thường được đặt ở vị trí hai bên của Phật động. Với trang phục võ tướng mạnh mẽ, các hoa văn trên trang phục thường nhiều chi tiết... Tượng được đứng trên đám mây, đội mũ trụ, mặc áo giáp, thân hình khỏe mạnh, nghiêm trang, gương mặt sáng. Tượng được bố cục cân đối, đường nét cơ bản theo chiều dọc. Tượng đứng độc lập, chiếm một khoảng không gian riêng, mang ý nghĩa vừa răn đe vừa kiềm chế, toát lên một vẻ nghiêm nghị, khuôn mặt đầy đặn, ánh mắt dịu hiền, khích lệ đối với tượng khuyến thiện, còn tượng trừng ác với mắt xếch, mày rậm tạo sự dữ tợn.

Tượng phù trợ, có nhiều nhân vật với vẻ mặt ngây ngô, các vị quan nhìn suy tư, trầm ngâm với hình dáng mặt to, gương mặt thể hiện sự nghiêm khắc, lo lắng về thế gian được tạo hình với nét mặt của quan, thần, người hầu... Phần nhân vật phù trợ thường được làm bé hơn nhân vật chính, có sự thay đổi về kích thước và theo truyền thuyết để nhấn mạnh vào tượng trong Phật động. Ở bố cục sắp xếp tự do, mang tính dân gian, gần gũi, không bị gò bó trong cách thể hiện.

Điểm quan trọng mà điêu khắc Phật động chùa Kiến Sơ muốn nhấn mạnh chính là yếu tố dân gian, sự hồn nhiên, thể hiện sự tự do về tạo hình, tạo khối nhân vật.

Nhân vật dáng người nằm tạo hình đậm chất dân gian, cảm nhận được sự thư thái, an nhiên… ở đây như diễn tả sau khi trải qua thời gian tu tập và giác ngộ con đường Phật pháp, nguyên nhân của mọi sự khổ đau mà con người đã phải trải qua trong cuộc sống trần gian.., tượng này dường như thể hiện sự tương phản với sự khắc khổ của nhân vật tượng Tuyết Sơn tu khổ hạnh trong Phật động.

Hình con hổ vằn vui tươi, ngô nghê, các chi tiết khái quát. Hình ảnh tượng hổ mẹ với hình dáng oai vệ, khỏe khoắn và cứng rắn như sự che chở cho hổ con… Tạo hình hổ con nhìn dễ thương và gần gũi, không hề đáng sợ như hình ảnh tự nhiên ngoài đời… đã được bình dị hóa nhân vật trở nên thân thương và thân thiện với con người, như sự giáo hóa đến cả con vật, một loài thú dữ cũng trở nên hiền lành… Đặc điểm khối lớn khi tạo hình con hổ ở đây chính là sự khái quát về hình dáng hổ mẹ và hổ con, nhưng bên cạnh đó vẫn diễn tả được từng nét riêng của từng nhân vật, như hổ mẹ - hổ con. Chi tiết được đơn giản hóa đi nhưng không mất tính vốn có của một con vật cụ thể.

Hình rồng, biểu hiện trong hình khối, hình đầu rồng được tạo tác đầu rồng to hơn so với tỷ lệ, nổi bật trong khung cảnh, biểu lộ sự dữ tợn, với gương mặt và sự dũng mãnh của hình tượng rồng…

Nhìn chung bố cục của tượng và cách sắp xếp tượng trong Phật động với tổng thể tạo nên sự phong phú, đa dạng, giữa các tầng và lớp tượng từ trước ra sau từ trong ra ngoài, từ thấp đến cao đều không bị che lấp, sự trang trí trong Phật động chính là điểm đặc biệt để nhấn mạnh vào nhân vật dù kích thước bé hay to, xa hay gần do cách bố trí từng tượng hợp lý…

Các tác phẩm điêu khắc ở Phật động chùa Kiến Sơ vừa mang tính chất trang trí cho sự đông đúc của hệ thống tượng thờ, vừa thể hiện sự phát triển của mô hình bài trí tượng thờ trong chùa của người Việt trải qua các giai đoạn lịch sử. Sự khác biệt về tỷ lệ trong các pho tượng ở Phật động chùa Kiến Sơ cũng mang tính đồng nhất với hệ thống tượng trong Phật động của các di tích khác. Tuy nhiên, những pho tượng đứng, ngồi đã được nghệ nhân tạo tác tính toán để tạo lớp lang, các hình tượng như rồng, hổ, voi, sư tử luôn ở thấp, vị trí khuất, đan xen xung quanh. Đây cũng là yếu tố tạo hình mà những hình phụ trợ được thể hiện mang tính tượng trưng và khái quát, ít nhiều có sự tương đồng và nhất quán với quan niệm tạo động Phật của các ngôi chùa miền Bắc Việt Nam. Với kỹ thuật tạo tượng đúc, đắp… trên chất liệu đất, đá được thể hiện như những câu chuyện, tích chuyện về đạo Phật cũng như con đường hành đạo, diễn giải theo một trình tự nhất định, song mang tính dân gian để phù hợp với văn hóa, tạo hình Việt Nam.

Nguyễn Thị Thu Hương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).