Nghệ thuật sử dụng từ Hán Việt trong thơ

Trong hàng ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc ta đã thể hiện sức sống mãnh liệt bằng việc không bị đồng hóa bởi phương Bắc. Nền văn hóa Việt Nam, trong đó có Tiếng Việt đã giữ vững tính độc lập của mình. Điều đó ai cũng biết và là niềm tự hào của chúng ta.

Tuy nhiên, trong văn hóa và đặc biệt là ngôn ngữ, những hiện tượng giao thoa do lịch sử tạo ra là một điều có thật. Cần nhìn nhận hiện tượng đó một cách khách quan và quan trọng hơn là tận dụng những mặt tích cực của nó, chứ không nên và không thể tùy tiện phủ nhận.

Việc trong Tiếng Việt đã và đang tồn tại một bộ phận không nhỏ từ Hán Việt là một hiện tượng như thế.

Còn nhớ, ngay cả Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người luôn đề cao việc giữ gìn sự trong sáng cho Tiếng Việt bằng cả lời nói và việc làm, ví dụ như  Người luôn dùng từ “vẻ vang” thay cho từ “vinh quang”, gọi phong trào thi đua của phụ nữ là “ba đảm đang” thay vì “ba đảm nhiệm” v.v... tuy nhiên, cũng chính Người lại nhắc nhớ rằng không vì thế mà máy móc đến mức gọi “độc lập” là “đứng một” chẳng hạn.

Từ Hán Việt là những từ ngữ gốc Trung Quốc du nhập vào Tiếng Việt từ thời Bắc thuộc, tức hàng ngàn năm trước và một khi đã tồn tại đến hôm nay là nó đã có một sức sống ổn định, được hòa tan và thuần hóa bởi bản ngữ, đã mặc nhiên có chỗ trong đời sống tinh thần của người Việt. Việc tiếp thu và thuần hóa ấy chỉ có lợi cho tiếng Việt mà thôi.

Nghệ thuật sử dụng từ Hán Việt trong thơ -0
Các nhà thơ (từ trái qua): Huy Cận (1917 - 2005), Xuân Diệu (1916 - 1985), Quang Dũng (1921 - 1988) là những bậc thầy trong sử dụng từ Hán Việt.

Riêng trong văn học, từ Hán Việt có một vị trí đáng trân trọng. Sắc thái biểu cảm của từ Hán Việt nghiêng về phía cổ kính, trang nghiêm, có khi đến như đường bệ mà ngay cả những từ thuần Việt mặc dù hoàn toàn đồng nghĩa cũng thường không có được. Xin dẫn vài thí dụ:

Trong bài thơ “Đẹp xưa” của Huy Cận, bên cạnh những câu thuần Việt đến mức tinh tế:

Ngập ngừng mép núi quanh co
Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang

Tiếp theo là những câu dùng từ Hán Việt rất đắc địa:

Dừng cương nghỉ ngựa non cao
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon
Đi rồi, khuất ngựa sau non
Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu

Đúng là “đẹp xưa”, những từ Hán Việt như “lữ thứ”, “tràng đạc”, “tịch liêu” quả có góp phần làm cho không khí bài thơ nhuộm màu cổ kính tiêu tao. Cũng như vậy, Huy Cận có hai câu:

Một chiếc linh hồn nhỏ
Mang mang thiên cổ sầu

Câu thứ hai không chỉ có từ Hán Việt mà cấu trúc ngữ pháp cũng là của Hán ngữ - đặt tính ngữ trước danh từ. Và khỏi nói, một giọng thơ, lời thơ như thế mang đậm màu sắc phương Đông cổ như thế nào. Nếu thay thế chúng bằng những từ thuần Nôm chắc không khí sẽ khác đi, tựa hồ như đọc văn chương phương Đông qua bản dịch tiếng Tây chẳng hạn.

Xuân Diệu cũng là một bậc thầy trong phép đưa từ Hán Việt vào thơ mà cả hai thứ ngôn từ Việt và Hán đều nhuần nhuyễn, hỗ trợ cho nhau, chẳng hạn trong bài thơ có cái tên đặc Hán Việt “Nguyệt cầm”:

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rùng mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh

Chỉ với một từ “nương tử”, những câu thơ bỗng trở nên cổ kính và sang trọng lạ thường, sang trọng và trang trọng. Nhưng trang trọng mà đến đường bệ là khi nhà thơ cực tả phút giây tình tự của đôi trai gái giang hồ trong “Lời kỹ nữ”:

Đây rượu nồng. Và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử
Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn

Những từ “hoàng tử”, “viễn xứ”, “ngự” đã góp phần biến tình yêu ở đây thành một thứ nghi lễ thiêng liêng. Và nếu bàn về nội dung thì có thể nói rằng những câu thơ với từ ngữ như thế đã bày tỏ rất nhiều về thái độ của tác giả trước một thực tế mà hầu như cả xã hội đều nhìn nhận ngược lại. Và chúng đã bày tỏ một cách hữu hiệu vô cùng vì vẻ đẹp của chính ngôn từ mà ở đây có sự đóng góp của các từ Hán Việt. Thi sĩ Bích Khê cũng dùng một lối nói như thế khi bày tỏ lòng ngưỡng mộ không cùng của mình trước vẻ đẹp cao siêu của những bức “tranh lõa thể”:

Ô! Tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đem triển lãm cả tấm thân kiều diễm...

Hãy thử thay một từ “xiêm áo” thôi bằng từ thuần Việt như “quần áo”, hoặc “áo xống” chẳng hạn, thì liệu câu thơ sẽ như thế nào? Rõ ràng từ cao quý sang dung tục chỉ cách nhau có một từ, mà lại là từ đồng nghĩa hoàn toàn! Trong văn cảnh ấy, từ Hán Việt là cách lựa chọn tối ưu. Nhưng nếu ở một trường cảm xúc khác, với một thi sĩ khác, Hồ Xuân Hương chẳng hạn, trong bức tranh “Thiếu nữ ngủ ngày”, thì những từ nôm na lại tỏ ra thích hợp hơn, mặc dù thi sĩ này sống trước hàng thế kỷ và trình độ Hán ngữ chắc là cao hơn gấp bội.

Sau năm 1945, trong hoàn cảnh mới, xu thế chung trong sử dụng ngôn ngữ là giảm dần từ Hán Việt, điều đó có lý của nó, nhưng cự tuyệt hẳn từ Hán Việt là điều không thể. Trong thơ chẳng hạn, nhất là giai đoạn đầu kháng chiến, hơi hướng của từ Hán Việt còn khá mạnh. Chúng ta hẳn còn nhớ mấy câu thơ ngang tàng của chàng thi sĩ trẻ Chính Hữu trong những ngày mới bước chân vào quân ngũ và cũng là nghiệp thơ:

Những chàng trai chưa trắng nợ phong trần
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi hài vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa

Đúng là phong vị của “Chinh phụ ngâm” với rất nhiều từ Hán Việt.

Tôi nghĩ rằng, trong nhiều yếu tố làm nên thành công của kiệt tác “Tây tiến” của thi sĩ Quang Dũng có sự đóng góp của những từ Hán Việt. Trong phần trước ta đã nói đến từ “xiêm áo” từng làm nên vẻ cao quý trong bức “tranh lõa thể” của thi sĩ tiền chiến Bích Khê, thì với nhà thơ Vệ quốc quân Quang Dũng nó vẫn có chỗ như thường:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nếu có gì bị coi là chối tai thì phải sau đó vài ba năm, khi hệ thống tuyên huấn có phần cứng nhắc tác động mạnh vào văn chương, chứ thoạt đầu từ lính tráng đến thường dân người người đều thích cái khẩu khí lãng mạn mà bi hùng của đoàn quân Tây Tiến:

Một lần nữa ta lại thấy những “viễn xứ”, “áo bào”, “khúc độc hành” phát huy tác dụng như thế nào. Thực ra với một từ như “khúc độc hành”, người đọc bình thường chưa chắc mấy ai đã hiểu tận tường đầu cua tai nheo ra sao, cũng chỉ là cảm thấy lờ mờ, đại khái “độc” là “một mình”, còn “hành” là “đi”... “đi một mình” thì hẳn buồn bã, cô đơn là cái chắc, thế thôi. Nhưng ở đây, âm hưởng mới là quan trọng - từng từ một vang lên mạnh mẽ, hào sảng không gì thay thế được. Và đó là một trong những thuộc tính hàng đầu của thơ. Yêu “Tây tiến”, thực sự chúng ta phải biết ơn kho từ ngữ phong phú của Tiếng Việt, trong đó có bộ phận từ Hán Việt, đã cung cấp cho  thi sĩ thứ chất liệu quý báu để tạo nên kiệt tác thi ca.

Anh Ngọc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).