Ngẫu hứng cùng nhà văn Nguyễn Hiếu

Tôi nghe tiếng Nguyễn Hiếu đã lâu, từ cái đận đầu năm 1990, khi anh có bài thơ "Nhân Dân" in trên một tờ báo. Mới đây, tôi có dịp đi xem bản diễn vở "Kiều" của anh do Nhà hát Kịch Việt Nam dàn dựng, với nhiều ý tưởng độc đáo, càng mới thấy ở tuổi "thất thập cổ lai hy", nhà văn vẫn cần cù làm việc, không biết mệt mỏi…

Kỷ lục văn chương và những chuyện bất ngờ

Mới đây, có dịp gặp nhà văn Nguyễn Hiếu, tôi mới hay anh lại ăn lộc của thơ không ít, từ khi mới vào nghiệp văn. Đó là vào năm 1973, anh được giải thưởng thơ do cố thi sĩ Xuân Diệu trao tại cửa hàng Bô-đê-ga, phố Tràng Tiền. Chỉ với số tiền tương ứng 100 đồng mà anh cưới được vợ, chuyện thú vị làm sao. Đó là món nhuận bút "hạnh phúc" của đời anh.

Bền bỉ thủy chung đúng với nghĩa đến khi đầu bạc răng long, nay đã hơn 40 năm. Và đó cũng chính là những năm tháng, sau khi tốt nghiệp khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp (1970), anh dấn thân vào nghiệp văn chương với niềm say mê bất tận. Hạnh phúc gia đình tựa như suối nguồn nuôi dưỡng sự dồi dào trong cảm xúc và những nét thăng hoa trong sáng tạo. Anh miệt mài cày ải trên cánh đồng chữ nghĩa, với những thành công đột biến, gây ấn tượng bất ngờ.

Trước hết, phải nói hiếm nhà văn nào viết được nhiều tiểu thuyết như anh, với số lượng 26 tác phẩm, tính từ tiểu thuyết đầu tiên: "Người đàn bà quỷ ám" (in 1988) đến nay. Có thời, chỉ trong độ dăm năm (1988-1992), cái tên Nguyễn Hiếu được bạn đọc đón nhận liên tục tới 13 cuốn tiểu thuyết, nghĩa là mỗi năm trung bình anh viết hơn 600 trang bản thảo. Trong số đó, tiểu thuyết "Bụi đường" được giải Nhất về đề tài Giao thông vận tải và cuốn "Tôi bán mình" đồng giải Nhất trong cuộc thi tiểu thuyết tại thành phố Hồ Chí Minh.

Anh là một trong số tác giả được in tiểu thuyết đều đặn hàng năm. Cuốn mới nhất nhà văn Nguyễn Hiếu hoàn thành đầu quý hai năm 2017. Gặp tôi, anh tâm sự rất hứng khởi về cuốn tiểu thuyết "Con ngố" in cách đây đúng 10 năm.

Đây là cuốn tiểu thuyết được dư luận đánh giá cao. Nó điển hình cho phong cách nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Hiếu. Trong đó, nhân vật Liễu ẩn chứa sự ma mị ở bề ngoài, nhưng lại chan chứa nỗi đời trong cõi tâm linh. Tính khái quát của mẫu hình nhân vật cùng những biến động trong cuộc đời đã làm nổi bật hình tượng ẩn dụ sâu sắc về một nền văn hóa dị bản của một giai đoạn lịch sử nhất định. Đó là tính tư tưởng của tiểu thuyết mà tác giả đã ấp ủ và thể hiện nó một cách độc đáo.

Bên cạnh khối lượng lớn về tiểu thuyết, nhà văn Nguyễn Hiếu còn để lại dấu ấn khó quên về kịch bản sân khấu. Có những tác phẩm như "Con tàu ma", anh thể hiện trên cả mấy thể loại khác nhau, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản sân khấu và kịch bản điện ảnh. Nói riêng về kịch bản sân khấu, anh cũng lập một kỷ lục đáng nể khi viết tới hơn 70 tác phẩm.

Anh kể, có giai đoạn đã từng viết liên tục 8 vở liền, cho dù không được duyệt dựng một kịch bản nào. Vậy mà anh vẫn say mê và tin ở hướng đi của mình. "Kiều" là kịch bản thứ 10 của Nguyễn Hiếu được dàn dựng trên sân khấu. Con số này quả là không thấm vào đâu so với số lượng kịch bản anh đã viết. Vậy mà anh vẫn tiếp tục cuộc chơi say mê của mình. 

Bộ "Tuyển tập Nguyễn Hiếu" nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (2010) cũng là sự kiện tạo dựng một kỷ lục trong làng văn chương hồi đó. Bởi lẽ chưa tác giả nào có bộ "Tuyển tập" tới 10 cuốn, dày hơn 600 trang mỗi cuốn ngay khi còn sống. Với tổng số tác phẩm trong "Tuyển tập": 19 tiểu thuyết, 100 truyện ngắn, 8 kịch bản và 300 bài thơ, nhà văn Nguyễn Hiếu quả là một trong số rất ít nhà văn có số trang viết nhiều nhất hiện nay.

Ấy là chưa kể, anh còn đoạt hơn 10 giải thưởng cả bốn thể loại mà anh đã hối hả làm việc suốt gần nửa thế kỉ qua. Đặc biệt, anh còn giữ kỷ lục với con số hơn 300 kịch bản, câu chuyện truyền thanh trong thời gian 39 năm làm việc (1970-2009) ở Đài Tiếng nói Việt Nam. Sức làm việc của nhà văn Nguyễn Hiếu quả đúng với hình ảnh "Một lực sĩ văn xuôi Việt Nam" mà nhà văn Ma Văn Kháng đã hình dung về anh.

Lắng đọng một tấm lòng

Phía sau sự vạm vỡ của một "lực sĩ" văn xuôi, tôi lại thấy bóng dáng của trang nam tử Hà thành Nguyễn Hiếu lịch lãm và có phần hóm hỉnh. Trong cuộc sống gia đình tôi nhận ra anh còn thể hiện góc cạnh dịu dàng, lãng mạn thầm kín. Nghe tiếng chim gù trong ngôi nhà anh ở phố 8-3, phường Phương Mai, quận Hai Bà Trưng, nơi xóm chợ ồn ào mới hay, trong anh có một góc huyền ảo riêng tư.

Tôi thực yêu mến anh ở những con chữ anh dành cho người vợ chung lưng đấu cật mưu sinh trong hơn 40 năm cuộc đời. Trên trang Facebook, anh thường gọi vợ là Gấu, với sự yêu thương pha chút hài hước ngọt ngào. Nhìn bức ảnh anh ngồi thụp dưới sàn nhà, tay xoa cái đầu hói với vẻ rụt rè mà thấy dễ thương làm sao.

Một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Hiếu.
Một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Hiếu.

Anh viết trên dòng thời gian rằng: "Gần Gấu, má kề Gấu và dù thế nào cũng khiếp Gấu". Tôi đoán chắc đây là ảnh do chính vợ anh chụp. Tuy không biết họ đã nói gì với nhau, nhưng xem ra những con chữ ấy là sự bày tỏ tình yêu, đọng lại suốt một đời. Đây đó nhà văn Nguyễn Hiếu thường dành cho vợ những phút giây xao xuyến và ấm cúng.

Anh đã viết: "Gấu đi sắm đồ rét. Gấu bảo mỗ chụp để chọn. Vô tình Gấu làm người mẫu. Mỗ chỉ xin đừng ai thuê Gấu làm mẫu. Vì sẽ không còn ai thổi cơm, quát mắng ông và cháu. Nhà cửa không có Gấu sẽ bừa bộn kinh khủng lắm…". Lại có lần anh viết bâng quơ về vợ nhưng lại hết sức thú vị: "Chợ ngõ nhà mỗ sáng 29 tết. Chả hiểu hấp dẫn gì mà hôm qua Gấu ra chợ hơn 50 lần. Sáng nay mới đến 8 giờ, Gấu đã lượn chợ gần 20 lần. Kinh hoàng".

Thật là yêu vợ hết lòng cho dù có phần kích hoạt tưởng tượng. Lại có bận: "Gấu đưa mỗ đi khám bệnh. Vào bệnh viện Gấu cũng xem bệnh án, xếp giấy, ngồi chờ cho mỗ". Nghĩa là cả hai yêu thương nhau đến nay, đã ở tuổi bảy mươi, nhưng vẫn còn quấn quýt lạ thường.

Nhìn những tấm hình Nguyễn Hiếu chụp cho vợ càng thấy anh có góc quan sát tinh tế cùng với tình cảm sâu sắc. Bởi những bức ảnh ấy rất đẹp, luôn toát lên nét tươi tắn của một thời con gái, mơ mộng yêu thương. Vậy đó, bên cạnh một tư duy sắc sảo, đối kháng quyết liệt trên những trang văn là một Nguyễn Hiếu hào hoa, lãng mạn trong đời sống. Mới đây tôi còn được đọc bài thơ anh viết về "Ngôi nhà xưa của mẹ" nhân dịp làm nhà mới tại quê Chèm, nơi anh sinh sống cả cuộc đời mình. Những câu thơ cũng thật huyền ảo như trong văn của anh vậy: "Căn nhà xưa của mẹ đứng bạc trơ/ Con bọ ngựa già nghiêng đầu ngơ ngác…/ Trăng khuyết rơm rớm lửa/ Tháng năm tan cùng heo may". Đó là một vỉa đẹp trong tâm hồn thi sĩ Nguyễn Hiếu luôn được sưởi ấm bằng ngọn lửa quê hương, tình yêu và hạnh phúc.

Còn đó tình yêu cuộc sống

Không hiểu sao, giọng hót trầm ấm của chim gù vẫn văng vẳng bên tai tôi, mỗi khi đọc lại những câu thơ hay trang văn của Nguyễn Hiếu. Cũng giống tiếng chim hót, những âm thanh kẻ chợ dường như không thể thiếu bên cuộc sống thường nhật của anh. Bởi đó chính là âm thanh "Nhân dân" vọng về mọi buồn vui, gợi mở tâm hồn thi nhân trở về thực tại. Nhịp đập con tim luôn thổn thức cùng sự biến ảo trong cõi vô thường.

Nhà văn Nguyễn Hiếu coi tình yêu cuộc sống mới là sự quyết định cho những sáng tạo nghệ thuật. Đó có thể là sự "nổi giận" của những con chữ. Hoặc còn là sự phẫn nộ của trái tim. Hay là sự chia sẻ với những thân phận, cùng những bi kịch cuộc đời. Nhà văn tồn tại vì lẽ sống. Bất chợt tôi nhớ lại câu thơ của anh còn đọng lại với thời gian khi nói với vợ yêu: "Em hãy sống tận cùng của thực tại đắm say/ Anh vẫn thế và trọn đời là thế". Tôi bị hấp dẫn bởi những con chữ của nhà văn Nguyễn Hiếu vì lẽ đó.

Vương Tâm

Các tin khác

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.