Nhân đọc trường ca "Biển mặn" của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo NXB Hội Nhà văn, 2015

Neo hồn thơ vào "Biển mặn"

Khi đọc tập trường ca "Biển mặn", tự nhiên tôi có ý so sánh với trường ca "Biển" của nhà thơ Hữu Thỉnh. Hai người từng là lính. Hai người cùng viết về biển. So sánh thì thấy: Hai nhà thơ, hai cách tiếp cận biển. Và dù viết sau, nhưng Nguyễn Trọng Tạo đã có một cách riêng để triển khai trường ca của mình. Chúng ta sẽ thấy đó là một cách triển khai thông minh, độc đáo và sáng tạo.

Chúng ta đã có nhiều, rất nhiều các tác phẩm văn xuôi, thơ và trường ca viết về chiến tranh. Nhưng đề tài chiến tranh vẫn không bao giờ cũ. Trường ca "Biển mặn" của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo vừa xuất bản, như đang làm nóng lên đề tài này. Mấy câu thơ trong bài thơ "Những người lính đi qua thành phố" được lồng vào trường ca này có lẽ giúp chúng ta hiểu vì sao Nguyễn Trọng Tạo viết trường ca "Biển mặn":

Người lính đi, qua mấy cuộc chiến tranh
Nói về súng dẫu nhiều - chưa nhàm cũ
Nói mất mát, hi sinh dẫu cạn lời - chưa đủ

Khi đọc tập trường ca "Biển mặn", tự nhiên tôi có ý so sánh với trường ca "Biển" của nhà thơ Hữu Thỉnh. Hai người từng là lính. Hai người cùng viết về biển. So sánh thì thấy: Hai nhà thơ, hai cách tiếp cận biển. Và dù viết sau, nhưng Nguyễn Trọng Tạo đã có một cách riêng để triển khai trường ca của mình. Chúng ta sẽ thấy đó là một cách triển khai thông minh, độc đáo và sáng tạo.

Trường ca "Biển mặn" của Nguyễn Trọng Tạo gồm 5 chương và phần Vĩ thanh: Mặn hơn muối; Những cột mốc sống; Lính biển; Hải chiến; Đảo bão; và Vĩ thanh.

Tập thơ “Biển mặn” của Nguyễn Trọng Tạo.
Tập thơ “Biển mặn” của Nguyễn Trọng Tạo.

Bản trường ca này có chủ đề khái quát "mặn hơn muối" để nói về "Biển mặn".  Trên trục hoành không gian, biển trải từ Móng Cái đến Hà Tiên, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo khác. Đồng thời trên trục tung lịch sử, tác giả triển khai "Những cột mốc sống" từ thời xưa đến bây giờ, khẳng định chủ quyền ở Trường Sa và ở Hoàng Sa.

Bốn thế kỷ đi qua cột mốc giữa trùng dương
Những Hải đội Hoàng Sa nhập hồn vào sóng nước
Nhập vào đá san hô
Nhập vào Tổ quốc
Vẫn còn đến hôm nay tục tế lễ sân đình
Tế lễ khao quân
Tế sống lính lên đường
Những hình nộm chết thay cho người lính
Cầu an bình cho mọi chuyến hành hương.

Về lịch sử nối tiếp các thế hệ, trong chương "Lính biển", tác giả đã viết về người lính hôm nay, con trai của người lính năm xưa trong bài thơ "Những người lính đi qua thành phố". Thật khái quát và cô đọng:

Cha đã lính. Bây giờ con lại lính
Những thế hệ nối nhau đi giữ nước non nhà
Xưa cha Trường Sơn Rừng
Nay con Trường Sơn Biển

Tiếp nối lịch sử "Hải đội Hoàng Sa" từ thời nhà Nguyễn, tác giả dựng lên chương "Hải chiến" rất cụ thể, rất "thời sự". Ở đây không có lối nói bóng gió nào hết. Đánh nhau với bọn cướp biển không phải chung chung như vẫn nghe là "tàu lạ":

Bọn cướp biển là ai? Tôi đã nhìn rõ mặt
…Tanh tưởi ngoại ngữ quen
Nghìn năm nhai xác….
…Rồi một ngày họ thành quân xâm lược…
Tín hiệu hòa bình phát đi không thể nào xua đuổi
Những chiến hạm xâm lăng.
…Lửa đã cháy
Và biển xanh dâng sóng…

Có thể nói, toàn bộ bản trường ca, đã thể hiện rõ tính chất bi tráng của cuộc chiến khẳng định chủ quyền và tinh thần vệ quốc của chúng ta trên biển.

Chương "Đảo bão" là chương khắc họa thêm phẩm chất của người lính biển Việt Nam. Nguyễn Trọng Tạo khắc họa sâu đậm về tập thể những người lính vẫn vững vàng trên đảo bão, như là biểu tượng của cột mốc chủ quyền thiêng liêng:

Đảo vẫn đứng hiên ngang như đứng vậy từ xưa
Dáng người lính sáng lên cùng đá đảo
Những người lính đầu trần không áo
Lại đắp dày công sự của mình lên

Phần "Vĩ thanh" là một phần tương tự như cái kết thúc có hậu trong truyện cổ dân gian. Chúng ta đã cắm mốc chủ quyền bằng những "cột mốc sống". Chúng ta có những người lính biển dày dạn chiến chinh. Chúng ta đã có những trận hải chiến ác liệt. Chúng ta vẫn vững vàng trong bão tố biển khơi. Và những gì của ông cha ta để lại, chúng ta phải giữ lấy bằng mọi giá. Và đảo đá đã thành quê:

Nghe tiếng gà gáy trưa trên ghềnh đá
Nghe tiếng bò gọi đêm thân thương quá
Tiếng chuông chùa rung động cả hoàng hôn…

Kết thúc trường ca là một sự thấu hiểu bằng con tim:

Biển nơi này mặn lắm
Những cuộc đời máu thắm đã thành hoa

Rất nhân văn, và cũng rất trọn vẹn khi "Điệp khúc tiếng sáo" luôn luôn trầm bổng khắp bản trường ca. Nó như vừa gói lại mỗi chương, lại như vừa nhắc lại và mở ra dòng mạch phát triển của chủ đề chính với một sắc thái mới mang tính phức điệu trong cấu trúc âm nhạc giao hưởng:

…Nhặt lên hạt muối, thưa rằng:
Một phần biển mặn. Mấy phần máu xương…

Tôi đã đọc nhiều trường ca, nhiều tiểu thuyết viết về sự hi sinh của chiến sĩ ta. Nhưng không thể nào không rưng rưng khi đọc những câu thơ về sự hi sinh kiêu hãnh mà đau xót của các chiến sĩ giữ đảo Gạc Ma:

Những người lính sát vào nhau một vòng tròn khép kín
Mặc pháo 100 li từ biển bắn vào
Các anh hóa thành sao
Các anh hóa thành cờ
Mỗi người lính một lá cờ Tổ quốc
Đó chính là tượng đài của sự hy sinh đã được dựng bằng thơ.

Cái mới mẻ và hấp dẫn của tập trường ca này chính là bên cạnh những câu thơ được viết kĩ, trau chuốt, vừa có vẻ thô mộc cường tráng, vừa tràn đầy cảm xúc và mang tính khái quát cao, thì có những đoạn văn xuôi đậm đặc tư liệu lịch sử, thông tấn. Không chỉ một đoạn mà nhiều đoạn từ sách của Lê Quý Đôn, từ sách sử triều Nguyễn, và từ những trang báo, trang tin về Hoàng Sa, Gạc Ma… (Theo sức đọc còn hạn chế của tôi, chưa có một trường ca nào làm như vậy!). Thế mà những đoạn văn xuôi tư liệu ấy lại mang tới rất nhiều lượng thông tin tâm hồn. Đó là cách mà Nguyễn Trọng Tạo đã làm cho dòng mạch trường ca trở nên sinh động, có sức cuốn hút riêng.

Cuối cùng, chúng tôi muốn nói tới những tìm tòi của tác giả Nguyễn Trọng Tạo trong bản trường ca này. Các chương được liên hệ với nhau chặt chẽ theo chiều rộng không gian biển Việt Nam. Và theo chiều dài lịch sử từ khi nhà Nguyễn lập Hải đội Hoàng Sa, cho đến những trận hải chiến gần đây nhất. Tác giả đã sử dụng  những thần thoại, truyền thuyết về Con Rồng cháu Tiên, về Đảo là con trai đất liền, Biển là tiên nữ; về việc ném đá thành các đảo, và cả những tục lệ "Tế lễ sân đình/ Tế lễ khao quân/ Tế sống lính lên đường" trong nghi lễ dân gian.

Nhân vật xưng tôi trong bản trường ca khi là một người bình thường "ra khơi vào lộng", nhưng khi lại hóa thành một nạn nhân trên thuyền bị hải tặc ráp vây, hoặc thành "con thuyền bị đâm trên biển của mình/ Những xương sườn gãy nát", khi khác thì như là trong thần thoại "Tôi mảnh ván tả tơi lại mọc thành cây/ Thành rừng xanh/ Thành cổ thụ/ Lại xẻ ván đóng thuyền". Tôi chính là người lính hải quân, có người cha đã viết bài thơ "Những người lính đi qua thành phố"…

Nhân vật tôi vì thế mà đa dạng, đa thanh. Sử dụng "điệp khúc tiếng sáo", sử dụng những ghi chép trong sách vở, trong bản tin. Sử dụng bài thơ hay của mình đã viết về người lính. Tất cả đều được huy động có chọn lọc, được sắp xếp cài đan chặt chẽ. Đó chính là độ chín trong cảm xúc và nghề nghiệp của người viết. Và điều cuối cùng là có nhiều câu thơ hay có thể đứng độc lập.

Một bản trường ca hay là bản trường ca có giá trị tư tưởng cao và có giá trị văn chương tương ứng. Thiếu một trong hai thứ, là không trọn vẹn. Rất đáng ghi nhận là giá trị tư tưởng của bản trường ca này nằm trong văn mạch yêu nước, một truyền thống quý báu của dân tộc. Và về nghệ thuật, ngoài bố cục chặt chẽ liền mạch, hợp lí, còn có nhiều câu thơ được viết bởi một tài hoa đang vào độ chín. Những câu thơ có thể neo vào tâm trí mọi người, như mỏ neo của các tàu chiến sĩ hải quân neo vào lòng biển.

Trong một rừng trường ca của chúng ta, "Biển mặn" là một trường ca thành công. Nó càng đặc biệt có ý nghĩa khi trường ca này ca ngợi những người lính biển đang tiếp nối "Trường Sơn Rừng" của lớp lớp cha anh.

Hà Nội, 13/12/2015

Vũ Nho

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).