Nam quốc sơn hà trong Châu bản triều Nguyễn

Tình cờ, tôi theo chân một người bạn đến Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (số 2 Yết Kiêu, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng), mới có cái may mắn được nhìn ngắm bản văn khắc "Nam quốc sơn hà" trong châu bản triều Nguyễn và nảy ra ý định viết bài này. 

"Nam quốc sơn hà" là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, khuyết danh - chưa xác định chính xác là của ai và ra đời vào thời gian nào (một số tài liệu chép có từ thời Tiền Lê, lại có tài liệu ghi là vào thời nhà Lý). Song, dù ra đời vào thời Tiền Lê hay thời nhà Lý, thì xưa nay, bài thơ vẫn mặc nhiên được thừa nhận là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của dân tộc và đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình ngữ văn của các cấp học phổ thông. 

Theo các sách "Việt điện u linh" của Lý Tế Xuyên và "Đại Việt sử ký toàn thư" của Ngô Sĩ Liên thì bài thơ này tục truyền là của Lý Thường Kiệt. 

Còn theo sách "Lĩnh Nam chích quái" do Trần Thế Pháp biên soạn, thì "Nam quốc sơn hà" là lời thần Trương Hống, Trương Hát lớn tiếng ngâm lên trên không, cổ vũ quân Lê Đại Hành, Phạm Cự Lượng đánh vào trại quân Tống trên sông Đồ Lỗ vào năm 980. Bài thơ thể hiện ý chí bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia độc lập tự chủ.

Ở đây, tôi không có chủ đích truy nguyên tác giả bài thơ, điều làm tôi đặc biệt chú ý, đó là ở phần phiên âm câu thơ thứ hai của bài thơ "Nam quốc sơn hà" thay vì như tuyệt đại đa số các sách hiện hành, cũng như những bản "Nam quốc sơn hà" dùng để đọc hoặc trình diễn trong Ngày thơ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, kể cả tại sân khấu chính tổ chức hằng năm ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội), bài thơ được dàn dựng công phu theo phong cách sử thi hoành tráng, kết hợp giữa múa hát và phần minh họa với giáo mác oai linh, cờ trống hoành tráng, phần phiên âm đều chép "Tiệt nhiên định phận tại thiên thư", thì trong châu bản triều Nguyễn lại khắc "Tiệt nhiên phân định tại thiên thư". 

Chỉ khác nhau có hai chữ ("phân định" thay vì "định phận"), mà ý nghĩa thì hoàn toàn trái ngược hẳn. 

Nam quốc sơn hà trong Châu bản triều Nguyễn.
Nam quốc sơn hà trong Châu bản triều Nguyễn.

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng ở Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: Theo quan niệm duy tâm, "định phận" là số phận đã định sẵn từ trước, còn "phân định" là chia ra và xác định. Cùng một ý với Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng, trong "Từ điển tiếng Việt" do Giáo sư Văn Tân chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội - Hà Nội năm 1967 chỉ rõ: "Định phận" là danh phận đã xếp đặt sẵn, không thay đổi được, theo quan niệm duy tâm; "phân định" tức chia ra và quyết định.

Trao đổi qua thư điện tử với Ban Biên tập Tạp chí Hồn Việt - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Ban Biên tập Tạp chí Hồn Việt đã cho biết: Theo niềm tin đương thời, ứng với mỗi vùng đất đều có một vùng sao (tinh phận) ở trên trời. Theo đó, sách trời (thiên thư) đã định vùng sao Dực, sao Chẩn ứng với vùng nước Nam - tức Bách Việt, như trong "Đằng Vương các tự" của Vương Bột (nhà thơ thời sơ Đường bên Trung Hoa) có câu "Tinh phân Dực Chẩn, địa tiếp Hành Lư", nghĩa là "Sao chia ngôi Dực, ngôi Chẩn; địa nối núi Hành, núi Lư". 

"Tiệt" là cắt, cưa ra. "Tiệt nhiên" là rõ ràng, rành rành. Câu "Tiệt nhiên định phận tại thiên thư" ngầm bảo, sách trời đã phân định địa phận hai nước Nam - Bắc rành rành rồi và "Nam quốc sơn hà" là để "Nam đế cư", nếu xâm phạm bờ cõi nước Nam, tức là xâm phạm đến uy trời, nhất định sẽ "Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" (Chúng bay tất sẽ thất bại).

Trên thực tế, "định phận" mang hàm nghĩa được trời ban hoặc được thừa hưởng một ân huệ nào đó từ thế giới siêu nhiên, còn "phân định" thì ngược lại, nó phản ánh năng lực tự xác lập và khẳng định vai trò chủ thể con người. Do vậy, xét về mặt ngữ nghĩa và văn bản học, văn khắc "Nam quốc sơn hà" trong châu bản triều Nguyễn chính xác hơn những văn bản khác của bài thơ hiện đang được lưu hành rộng rãi.

Tuy nhiên, có một số ý kiến khác lại cho rằng, về căn bản cả hai cách phiên âm ("phân định" hay "định phận") đều chính xác và hoàn toàn hợp lý, không hề có sự khác biệt nào lớn ở đây. Theo như Ban Biên tập Tạp chí Hồn Việt, "phân định" là từ được dịch ra từ "định phận", trong câu "Tiệt nhiên định phận tại thiên thư". Sau này, trong "Đại cáo Bình Ngô", Nguyễn Trãi một lần nữa nhắc lại điều này: "Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc - Nam cũng khác". Ý nói sách trời đã mặc định sẵn phương Bắc là phương Bắc, phương Nam là phương Nam, không ai được quyền (hay có quyền) thay đổi "thiên thư".

Tiếp tục khảo sát và trao đổi cách dịch câu thơ thứ nhất: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư", mà hầu hết các sách đều dịch "Sông núi nước Nam, vua Nam ở", với một số nhà nghiên cứu về văn bản học, đa phần các học giả đã không hài lòng với cách dịch này. 

Theo họ, chữ "Đế" mà dịch là "Vua" thì chưa thật chính xác, chưa thấy hết được tinh thần tự hào dân tộc của cha ông. Ban Biên tập Tạp chí Hồn Việt nhấn mạnh: "Đế" tức hoàng đế, cao hơn "Vua". "Đế" có quyền phong cho nhiều người làm "Vua" - Vương, như đời nhà Trần, phong cho Trần Liễu là An Sinh Vương; đời Tống bên Trung Hoa, phong cho một vị là Bát Hiền Vương…, nhưng "Vua" thì không được quyền phong cho bất kỳ ai làm "Đế". 

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng cho hay: Theo "Từ điển tiếng Việt", "Đế" là vua nước lớn, "Vua" là người đứng đầu một nước quân chủ. Rõ ràng tác giả bài thơ đã rất ý thức khi dùng "Nam đế" như một sự đối trọng với "Bắc đế", nhằm khẳng định chân lý: Nước Nam là một quốc gia độc lập, có lãnh thổ riêng, văn hóa riêng và có cương giới rạch ròi; quyền độc lập tự chủ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

Trong "Đọc văn học văn" - Nhà xuất bản Giáo dục tái bản năm 2003, khi giảng về "Nam quốc sơn hà", Giáo sư Trần Đình Sử cũng cho rằng: "Đối với các văn kiện hay tài liệu có tính tuyên ngôn thì điều quan trọng nhất là chữ nghĩa phải chính xác, không nên tùy tiện thay đổi". 

Vị giáo sư này đã có lý khi nhấn mạnh đến việc tôn trọng nguyên bản của bài thơ. Bởi, "Nam quốc sơn hà" là một tác phẩm đặc biệt, từ lâu đã được coi như bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của dân tộc, nên việc dịch chưa sát, chưa đúng sẽ làm ảnh hưởng đến tầm vóc cũng như ý thức tự tôn dân tộc của tiền nhân.

Vì những lẽ trên, có nhà nghiên cứu đã mạnh dạn đưa ra đề xuất, ở phần dịch thơ, nên được dịch là: "Sông núi nước Nam, Nam Đế ở/ Rành rành phân định ở sách trời/ Cớ sao lũ giặc dám xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời". Còn với ý thức tôn trọng nguyên bản, theo tôi, chỉ cần phiên âm bài thơ kèm theo phần dịch nghĩa và các sách nên thay thế hai chữ "định phận" thành "phân định" là đủ, khỏi cần phần dịch thơ.

Trịnh Chu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).