Mỹ học tiếng cười Tú Xương!

Cây đại thụ trào phúng Tú Xương nở hoa kết trái trào phúng tươi rói là nhờ có gốc rễ tình yêu rất khỏe bám sâu chắc vào hiện thực cuộc đời để hút chất dinh dưỡng văn hóa yêu thương, thông cảm, bênh vực, đòi một sự thay đổi xã hội để con người được sống "cho ra cái giống người"!

Để tạo ra tiếng cười luôn cần ba yếu tố cơ bản, một là bản chất đáng cười của đối tượng, hai là sự tinh nhạy nắm bắt những nét bản chất xã hội của chủ thể cười, ba là nghệ thuật trào phúng lôi cuốn bắt người ta phải cười. Mới chỉ có hai yếu tố đầu thì mới là văn phê phán, phải có yếu tố thứ ba và phối hợp thống nhất hoàn chỉnh trong một thế giới nghệ thuật mới có tiếng cười trào phúng. 

Thời đại và con người Tú Xương đã đáp ứng những điều kiện ấy một cách đầy đủ, hoàn chỉnh, thống nhất để nâng tầm nhà thơ trở thành nhà trào phúng vĩ đại của dân tộc. Một nhà văn lớn có khi không là nhà trào phúng nhưng đã là nhà trào phúng lớn thì luôn là nhà văn kiệt xuất. 

Nhìn ngay vào văn học Việt Nam cũng thấy quy luật này với Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Hồ Chí Minh, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… 

Nhà thơ Tú Xương - Tranh chân dung.
Nhà thơ Tú Xương - Tranh chân dung. 

Tiếng cười luôn là một mã văn hóa của thời đại, của dân tộc nên giải mã tiếng cười sẽ tìm được bản chất, xu thế thời đại và tâm hồn, tính cách dân tộc. Các nhà trào phúng lớn thực sự là những nhà văn hóa lớn.

Trường hợp thời đại và con người Tú Xương là rất tiêu biểu cho cơ sở, điều kiện để có tiếng cười trào phúng. Những cái đảo điên, lố lăng, hợm hĩnh, xấu xí ở thời ấy là rất đáng cười. Đó là điều kiện trước nhất. 

Với chủ thể cười, ngoài sự nhạy cảm nắm bắt bản chất trạng thái xã hội còn là tấm lòng nóng bỏng yêu thương con người và cuộc đời, càng yêu thương bao nhiêu càng căm ghét những gì đi ngược lại, phản lại con người bấy nhiêu. 

Cây đại thụ trào phúng Tú Xương nở hoa kết trái trào phúng tươi rói là nhờ có gốc rễ tình yêu rất khỏe bám sâu chắc vào hiện thực cuộc đời để hút chất dinh dưỡng văn hóa yêu thương, thông cảm, bênh vực, đòi một sự thay đổi xã hội để con người được sống "cho ra cái giống người"!

Nhìn vào nội dung cụ thể trong thơ Tú Xương cũng thấy chỉ có ông, chưa nói tới năng khiếu, là người có đủ thẩm quyền cao nhất về vốn sống để vạch trần bản chất thối nát của xã hội thời đó, để tạo ra một mô hình "lộn ngược" của thế giới đáng cười đó. 

Với các lý do sau: 

Một, có đủ sự hiểu biết của nhà Nho về đời sống văn hóa Việt. Không thể không nhắc tới sự ảnh hưởng của mỹ học Nho gia ưa châm biếm. 

Hai, là "thổ công" của thành Nam Định, chứng kiến trực tiếp hoặc gián tiếp những thay đổi "trời kia xui khiến sông nên bãi" ("Vị Hoàng hoài cổ"). 

Ba, trực tiếp là "thí sinh" với tám lần đi thi (Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy - "Buồn thi hỏng"), gần trường thi (Được gần trường ốc vùng Nam Định - "Buồn thi hỏng") với bao cảm xúc (Đau quá đòn hằn/ Rát hơn lửa bỏng - "Hỏng khoa Canh Tý "- 1900; Thi không ăn ớt thế mà cay - "Hễ mai tớ hỏng") nên nắm rõ, biết tường tận những chuyện đảo điên nơi trường thi (Thi thế mới là thi/ Ới khỉ ơi là khỉ! - "Than sự thi")...

Ba lý do này cũng là những mạch nguồn để có ba nội dung cơ bản trong thơ ông, xét về đại thể có ba bức tranh ngược đời tiêu biểu chính: Bức tranh "phố nửa làng"; Bức tranh "Trường thi"; Bức tranh "Gia đình". 

Cấu trúc chung của ba bức tranh này là ba nhóm mâu thuẫn không dung hòa như nước với lửa, mỗi nhóm mâu thuẫn như một "siêu truyện" đẻ ra bao nhiêu câu chuyện có cốt truyện, có nhân vật, tình tiết, chi tiết, ngôn ngữ của tiếng cười. 

Thế nên mỗi bài thơ gần như là một câu chuyện trào phúng để cùng làm giàu có thêm phong cách tiếng cười đa dạng về sắc thái, cung bậc, khi thì đả kích, mỉa mai, khi thì chế giễu, bỡn cợt, khi lại hài hước, suồng sã. 

Có tiếng cười bốp chát hả hê như chửi vào mặt đối tượng, khi lại bóng gió, ám chỉ thâm thúy. Có tiếng cười ra nước mắt đau đớn, chua chát, ngậm ngùi. Lại có cả tiếng cười bông lơn đùa cợt vui vẻ… Trào phúng Tú Xương như một từ điển về hình thức tiếng cười Việt Nam.

Hiện nay, trong giáo trình giảng dạy của các trường báo chí hiện đại ở một số nước tiên tiến (theo hiểu biết cá nhân người viết) đều coi "hỏi" là phương pháp điều tra cơ bản, vì thông dụng, tiện lợi, nhanh gọn và hiệu quả. Tất nhiên trong thơ Tú Xương có rất nhiều câu hỏi, có cả những câu hỏi tu từ nhưng phần nhiều là những câu hỏi mang tính "điều tra". 

Kỳ thi Hương ở Nam Định - Ảnh tư liệu.
Kỳ thi Hương ở Nam Định - Ảnh tư liệu.

Hỏi để làm rõ thông tin góp phần vạch ra sự thật của thông tin: "Học trò chúng nó tội gì thế?" ("Chế ông Đốc học"); "Chẳng hay gian dối vì đâu vậy?" ("Chế ông Huyện"); "Hàn lâm tu soạn kém gì ai?" ("Đùa ông Hàn"); "Hỏi lão đâu ta? Lão ở Liêm/ Xuân thu ướm hỏi đà bao tá?" ("Già chơi trống bỏi"); "Thọ kia mày có biết hay chăng?" ("Để vợ chơi nhăng"); "Cô Ký kia sao mà chết ngay?" ("Mồng Hai Tết viếng cô Ký"); 

"Ông Cử thứ năm con cái ai?/ Thứ năm ông Cử ai làm nổi?" ("Ông Cử thứ năm"); "Này này hương thí đỗ năm nào?" ("Thi phúc");  Lại có khi hỏi cả mình: "Trải mấy mươi năm vẫn thế ru?/ Rằng khôn? Rằng dại? Lại rằng ngu?" ("Hỏi mình"); Thậm chí hỏi trời: "Trời sinh ta ở trên đời biết chi?" ("Hỏi ông trời"); "Bắc thang lên hỏi ông cầm sổ?" ("Khóc anh rể và chị"). Hỏi trăng: "Nước đã mấy con, con nước lớn?/ Trăng bao nhiêu tuổi, tuổi trăng già?" ("Hỏi trăng, hỏi nước"). 

Hỏi thời gian, thời thế: "Xuân ơi, ta hỏi xuân xem nhé/ Quả đất còn bao độ chuyển vần?" ("Hỏi xuân"). Hỏi "trong ấy" (tức Kinh đô Huế): "Dám hỏi những ai nơi cố quận/ Rằng xuân, xuân mãi thế ru mà?" ("Xuân"). Hỏi "đất": "Có đất nào như đất ấy không?" ("Đất Vị Hoàng"). Có cả những lời "hỏi thăm": "Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà" ("Ông Ấm Điền"); "Hỏi thăm quê quán nơi mô?/ Không học mà sao cũng gọi đồ?" ("Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt");…

Là nhà "điều tra" nên ông nhận thấy sớm hơn tất cả về một trạng thái "ngược đời", "lạ đời" của xã hội. Thương đời "Những là thương cả cho đời bạc" ("Hỏi mình") nhưng càng buồn thêm vì bất lực, vì không thể làm sao thay đổi được trạng thái phong hóa đồi bại đang ngày một thê thảm. Vì thế mà thơ ông ngập tràn nỗi buồn, ngoài nỗi "buồn thi hỏng" (tên một bài thơ): "Bụng buồn còn muốn nói năng chi/ Đệ nhất buồn là cái hỏng thi", còn là buồn nhân thế và thời thế: "Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn" ("Hát tuồng"); "Sao đang vui vẻ ra buồn bã" ("Nhớ bạn phương trời"). 

Và rất nhiều tâm trạng "chán" và "ngán": "Ngán nỗi hàng phường khi cúng tế" ("Phường nhơ"), "chán": "Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng" ("Mùa nực mặc áo bông"), "ngao ngán, ngẩn ngơ": "Khiến người ngao ngán, ngẩn ngơ sao" ("Cái nợ"); "Vì ai lận đận cho mình ngẩn ngơ" ("Áo bông che bạn"). 

Cũng rất nhiều trạng thái "tiếc": "Nào ai có tiếc ai đâu?" ("Áo bông che bạn"), "Tỉnh ra lại tiếc người trong mộng" ("Chiêm bao")… Có một chủ đề "hoài cổ" trong thơ ông mà bài "Sông lấp" là rất tiêu biểu: "Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò"…

Bi kịch thời đại và bi kịch cá nhân dồn tụ, nén chặt vào tâm hồn con người thi nhân Tú Xương nên thơ ông đầy sự bức bối "Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông". Đầy bóng đêm "Đêm sao đêm mãi thế ru mà?" ("Đêm dài"), "Kìa cái đêm nay mới gọi đêm" ("Dạ hoài")… Có thể viết một tiểu luận nghiên cứu dài về hình tượng bóng đêm này. Đầy sự "bối rối": "Bối rối tình duyên cơn gió thoảng" ("Đêm hè"). Cũng đầy sự trăn trở vật vã "Nào ai là kẻ tìm ta đó/ Đốt đuốc mà soi kẻo lẫn nhà?" ("Đêm dài");… Bi kịch vẫn là bi kịch. Bóng đêm vẫn "dài". 

Nên cũng dễ hiểu có lúc đau mắt mà ông lại muốn mù hẳn: "Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ/ Giương mắt làm chi buổi bạc tình!?" ("Đau mắt")… Ta cũng hiểu vì sao ông rất hay "than đời" mà ngay tên bài thơ cũng thể hiện: "Câu đối than thân", "Câu đối than đời", "Than sự thi", "Than đạo học", "Than nghèo", "Gần Tết than việc nhà", "Than thân chưa đạt", "Than cùng"… Than là cảm thán, hướng về phía trữ tình, ngay tên bài thơ cũng cho thấy đó là cái lõi của những bi kịch mang tính cá nhân. 

Còn với bi kịch thời thế thì, đúng với sự nhạy cảm và năng khiếu trào phúng sở trường thì Tú Xương rất hay đùa, bỡn, chế, giễu, chửi… với tên các bài thơ: "Chế ông đốc học", "Đùa ông phủ", "Giễu ông đội", "Chế ông huyện", "Đùa ông hàn", "Bỡn ông ấm Điền", "Đùa bạn vào nhà pha", "Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt", "Chửi cậu ấm", "Chế gái đĩ", "Giễu người thi đỗ", "Bỡn ông phó bảng"… Đấy là chưa kể những bài "khen", bài "mừng" thực ra cũng là những lời giễu, chửi, như bài "Mừng ông lang", "Mừng ông cử lấy vợ kế", "Khen người Hàng Sắt". 

Ông lấy cả bi kịch mình ra để cười nên ta thấy mảng thơ viết về cá nhân nhà thơ là đa dạng nhất về giọng, ngoài giọng chung của bi kịch như ngậm ngùi, xót xa, đau đớn, cay đắng, còn là các cung bậc của hài kịch tiếng cười đùa bỡn, chế giễu, châm biếm, mỉa mai…

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).