Mùa xuân trong thơ Đường

Ngày xuân mà đọc thơ Đường viết về mùa xuân thì thật lý thú! Có thể thấy ngay một nhận xét là, trong thơ Đường, mùa xuân xuất hiện thường xuyên hơn, nhiều hơn các mùa khác trong một năm ở Trung Quốc và các nước phương Đông.

Hẳn là thi nhân đời Đường đã thấy được rằng, mùa xuân tạo ra những thi liệu mang nhiều cung bậc, nhiều sắc thái của tình cảm con người, và do đó có thể làm cho thơ đẹp hơn, vui hơn hay buồn hơn... trong mỗi tình huống mà mình đề cập.

Cũng dễ nhận ra là thơ Đường về mùa xuân nói riêng (và thơ Đường nói chung) buồn nhiều hơn vui. Đây là một đặc điểm của văn chương thời trước, mà nhà nghiên cứu và phê bình Trần Thanh Mại (1908-1965) phát hiện đã từ lâu. Năm 1962, trong một bài nghiên cứu về Nguyễn Trãi, ông viết: "Đối với người xưa, thơ cũng như rượu. Vui cũng có uống, nhưng buồn uống nhiều hơn".

Hãy đọc "Xuân giang hoa nguyệt dạ" (Đêm hoa trăng trên sông xuân) của nhà thơ Trương Nhược Hư (660-720). Bài thơ dài 36 câu này tả cực hay sắc xuân trên sông ban đêm với đủ cả trời, trăng, mây, tuyết, sương và thủy triều và bãi cát... từ đó mà nghĩ về thân phận con người:

Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ
Giang nguyệt niên niên vọng tương tư
(Người sinh trên đời không bao giờ hết
Chẳng biết trăng trên sông chiếu sáng những ai?)

Rồi:

Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa
Khả liên xuân bán bất hoàn gia
(Đêm qua thanh vắng, mơ thấy hoa rơi
Đáng thương cho những người đã nửa mùa xuân chưa được về nhà!)

Có nhà nghiên cứu cho rằng chỉ với một bài thơ "Xuân giang hoa nguyệt dạ", Trương Nhược Hư đã đáng được coi là một nhà thơ đặc sắc.

Thi Tiên Lý Bạch qua nét vẽ của một họa sỹ hậu sinh.
Thi Tiên Lý Bạch qua nét vẽ của một họa sỹ hậu sinh.

Lại như "Xuân hiểu" (Buổi sớm mùa xuân) của nhà thơ Mạnh Hạo Nhiên (689-740), chỉ có bốn câu mà trở thành kinh điển. Bài thơ có một sức hấp dẫn đặc biệt với hoa lá, chim chóc, gió mưa, mà ai dám bảo nó không nói gì đến tình cảm, đến thân phận con người:

Xuân miên bất giác hiểu
Xứ xứ văn đề điểu
Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu

(Giấc ngủ đêm xuân, không biết trời đã sáng
Chỗ nào cũng nghe thấy tiếng chim kêu.
Đêm qua gió mưa ào ào,
Không biết bao nhiêu hoa đã rụng?)

Bản dịch thơ của Nguyễn Thế Nức:

Đêm xuân một giấc mơ màng,
Tỉnh ra chim đã kêu vang quanh nhà.
Gió mưa một trận đêm qua
Làm cho hoa rụng biết là dường bao?

Lại như bài "Sơn phòng xuân sự" (Cảnh xuân trong căn nhà trên núi) của nhà thơ Sầm Tham (715-770):

Lương viên nhật mộ loạn phi nha
Cực mục tiêu điều tam lưỡng gia
Đình thụ bất tri nhân khứ tận
Xuân lại hoàn phát cự thời hoa

(Vườn Lương chiều tà, quạ bay loạn xạ
Nhìn hết tầm mắt mà chỉ thấy xơ xác vài ba nếp nhà.
Cây trước sân đâu biết rằng người đã đi hết,
Mùa xuân về, vẫn nở những bông hoa ngày xưa).

Bài này nếu chỉ dịch xuôi thì chưa thấy hết nghĩa. Cần biết thêm rằng, đời Lục Triều (222-589) con thứ ba của vua Lương Vũ Đế là Lương Hiếu Vương cho lập vườn Đông Uyển (người đời sau gọi là Lương Viên) ở trong thành. Nơi đây, bạn bè, khách khứa, danh nhân lúc nào cũng tụ tập đông vui, nhộn nhịp để câu cá, bắn chim, chơi bời, yến tiệc. Hơn một thế kỷ sau, trong một dịp qua đây lúc chiều tà, nhà thơ Sầm Tham buồn bã mà hoài cổ trước cảnh đìu hiu tưởng như vô tình của cửa nhà, chim chóc, cây cối. Bản dịch bài thơ này của Ngô Tất Tố:

Trời tối, vườn Lương qua dập dìu
Nhà xưa mấy nóc, cảnh đìu hiu.
Cây sân chẳng biết người đi hết.
Xuân tới, hoa xưa vẫn nở đều.

Tình bạn cũng hay được nói đến trong thơ Đường với những bài thơ cảm động, đặc biệt là những buổi chia ly, lại là chia ly trong ngày xuân. Hãy đọc một bài: bài "Hoài thượng biệt hữu nhân" (Trên Sông Hoài từ biệt bạn) của nhà thơ Trịnh Cốc thời Vãn Đường (835-907):

Dương Tử giang đầu dương liễu xuân
Dương hoa sầu sát độ giang nhân
Sổ thanh phong địch ly đình vãn
Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần.

(Đầu sông Dương Tử, dương liễu đượm màu xuân
Hoa dương liễu làm cho người qua sông buồn muốn chết.
Vài tiếng sáo vi vu ở đình ly biệt buổi chiều
Bác thì đi Tiêu Tương, tôi thì đi Tần!)

Bản dịch của Ngô Tất Tố:

Sông Dương dương liễu đua tươi
Hoa dương buồn chết dạ người sang sông
Đình hôm tiếng sáo não nùng
Anh đi bến Sở, tôi trông đường Tần.

Bản dịch hay, sáng tạo, nhưng ở câu đầu, bỏ mất từ "xuân" rất quan trọng; có lẽ phải dịch như sau mới đạt: Sông Dương dương liễu xuân tươi.

Lại nhớ thơ tình yêu đời Đường. Nhiều bài vô cùng hay với muôn hình vạn trạng. Ở đây, ta chỉ có điều kiện đọc ngẫu nhiên vài bài, như bài này của nhà thơ Lý Bạch (701-762):

Xuân tứ
Yên thảo như bích ti
Tần tang đê lục chi
Đương quân hoài quy nhật
Thị thiếp đoạn trường thì
Xuân phong bất tương thức
Hà sự nhập la vi

(Cỏ đất Yên vừa nhú mầm, còn như tơ biếc,
Dân đất Tần thì đã xòa canh xanh rồi.
Trong khi chàng nghĩ đến ngày trở về quê nhà
Thì chính là lúc thiếp đang buồn đứt ruột
Gió xuân chẳng quen biết ta
Sao lại lọt vào màn ta?)

Bài thơ này tạo ra những cách hiểu khác nhau. Theo cách hiểu của tôi, có thể diễn giải thế này: Khi ở đất Yên (ở miền bắc) vừa mới như mầm non, thì dâu đất Tần (ở miền trung) đã xanh lá. Cùng một lúc mà cỏ cây mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tình thiếp với chàng thì không như vậy. Lúc mà chàng nhớ thiếp, mong đến ngày về quê, thì cũng chính là lúc thiếp đang đau xót mà nhớ đến chàng. Gió xuân chẳng quen biết gì thiếp, sao lại lọt vào màn thiếp?

Bản dịch bài thơ này của Hồng Diệu:

Cỏ Yên chồi đang biếc,
Dâu Tần lá bạt ngàn.
Lúc chàng mong trở lại
Thiếp đứt ruột héo gan.
Gió xuân không quen biết,
Cớ chi gió vào màn!

Còn một bài (Vô đề) không thấy có trong các tập Đường thi, được lưu truyền gắn với những giai thoại đời Đường:

Nhất ẩm xuân giao vạn lý tình
Đoạn trường phương thảo đoạn trường oanh
Nguyện tương song lệ đề vi vũ
Minh nhật lưu quân bất xuất thành

(Một chén rượu ngày xuân uống cùng nhau mang mối tình muôn dặm
Cỏ thơm đứt ruột, chim oanh đứt ruột
Xin đem hai hàng nước mắt làm cơn mưa nhỏ
Sớm mai giữ chàng, không cho ra khỏi thành).

Nhiều nhà nghiên cứu cho bài thơ này là của Trần Mỹ Dung, một nhà thơ nữ, và giải thích: Trần Mỹ Dung là một cô gái xinh đẹp. Một viên quan muốn chiếm đoạt, bị nàng cự tuyệt. Hắn lập mưu bắt cha nàng vào tù. Viên quan trẻ tên là Phan Trung biết chuyện, tìm cách cứu cha nàng, sau đó được ông gả con gái. Sắp đến ngày thành hôn, Phan Trung bỗng nhận được lệnh phải đi làm công vụ. Trước lúc xa nhau, Trần Mỹ Dung làm bài thơ này.

Sau đó, Phan Trung có công phát hiện nhiều vụ tham nhũng, bị bọn tham quan ô lại trả thù bằng cách vu cáo, phải vào tù, được một cô gái là Hồng Nương chăm sóc những lúc ốm đau, bệnh tật. Khi Phan Trung được tha, Hồng Nương lo lắng thuốc thang, nên lúc bình phục chàng đành phụ tình Trần Mỹ Dung cưới Hồng Nương.

Mười năm trôi qua mà không có tin tức gì về Phan Trung, gia đình Trần Mỹ Dung cậy người đi dò la tin tức mới biết chuyện. Trần Mỹ Dung tìm thăm Phan Trung và Hồng Nương. Lúc chia tay, Phan Trung tặng Trần Mỹ Dung một bài thơ, trong đó có hai câu nổi tiếng, được truyền tụng rất rộng xưa nay:

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng
(Đã có duyên với nhau thì dù cách xa nghìn dặm cũng có thể gặp nhau
Không có duyên với nhau thì dù có ngồi trước mặt cũng như không gặp nhau vậy)

Lại có một giai thoại khác, kể rằng ở Kim Lăng có một kỹ nữ là Lê Cẩm Vân biết làm thơ, giỏi chơi đàn. Nàng phải lòng Phó Xuân. Khi Phó Xuân bị oan, phải giam trong ngục, nàng luôn luôn đến chăm sóc. Lúc Phó Xuân bị điều đi làm lính thú ở xa, Cẩm Vân vẫn đòi đi theo, nhưng chàng không thuận. Nàng ứng khẩu tặng Phó Xuân bài thơ "Nhất ẩm xuân giao..." nói trên. Sau đó, Cẩm Vân thương nhớ Phó Xuân đến buồn bã, ốm yếu, suốt ngày chỉ đọc kinh Phật, không lâu sau thì qua đời.

Bài "Nhất ẩm xuân giao..." này, ở Việt Nam ta có nhiều bản dịch thơ, bản sớm nhất cách đây đã gần một thế kỷ. Trong những bản ấy, theo tôi, bản do nhà thơ Nguyễn Bính dịch hay hơn cả:

Chén xuân chan chứa bao tình.
Cỏ thơm xơ xác, con oanh thẫn thờ.
Sớm mai chàng đã đi chưa,
Xin đem nước mắt làm mưa giữ chàng...

Hồng Diệu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).