Mùa xuân trong thi ca Việt

Từ xưa đến nay, trong bốn mùa của năm, mùa xuân có lẽ vẫn là mùa được thi ca nghệ thuật ưu ái hơn cả, trở thành nguồn đề tài bất tận cho những người nghệ sĩ ở mọi quốc gia, dân tộc. So với mùa hè và mùa đông, thời tiết của mùa xuân thân thiện hơn, không quá nóng không quá lạnh mà vừa đủ ấm áp.

So với mùa thu, mùa xuân gắn với nhiều lạc quan và hy vọng hơn bởi mùa thu đẹp nhưng thường đi cùng nỗi buồn man mác bâng khuâng, mà người ta không thể bước tới tương lai bằng nỗi man mác ấy. Trong dòng chảy thi ca Việt, mùa xuân đã đi vào vô vàn các tác phẩm thơ và nhạc của những nghệ sĩ tài danh, từ truyền thống đến hiện đại, trở thành một dòng chảy dạt dào với nhiều cung bậc cảm xúc, phong phú về nội dung biểu đạt.

Hội xuân của bà con các dân tộc miền núi phía Bắc.
Hội xuân của bà con các dân tộc miền núi phía Bắc.

1. Thời trung đại, vẻ đẹp của mùa xuân in dấu trong thơ của nhiều danh gia. Từ thế kỷ 11, Mãn Giác thiền sư qua bài kệ nổi tiếng “Cáo tật thị chúng” đã nói với chúng ta những quy luật của mùa xuân, của đất trời cùng sự đề cao giá trị tinh thần trong tư duy, trong suy nghĩ nội tại, nhấn mạnh vào niềm tin tưởng ở sự sống, ở tương lai: “Xuân qua trăm hoa rụng/ Xuân tới trăm hoa cười… Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước một nhành mai”. 

Nguyễn Trãi ở thế kỷ 15 cũng có khá nhiều câu thơ, bài thơ về mùa xuân, thể hiện niềm lạc quan yêu đời, ung dung tự tại. Con người sống chan hòa cùng cảnh sắc thiên nhiên của mùa xuân dù xuân đang dâng tràn hay “xuân đã muộn”: “Cỏ xanh như khói bến xuân tươi/ Lại có mưa xuân nước vỗ trời” (Bến đò xuân đầu trại), “Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn/ Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan” (Cuối xuân tức sự). 

Liền ngay sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ 16 cũng có những vần thơ về mùa xuân trong sự tận hưởng cuộc sống theo lẽ tự nhiên nhi nhiên: “Thu ăn măng trúc đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” (Nhàn). 

Đại thi hào Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” cũng có những câu thơ tả vẻ đẹp trong ngần, tinh khôi, đầy ắp sức sống của mùa xuân: “Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa/ Thanh minh trong tiết tháng ba/ Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh/ Gần xa nô nức yến anh/ Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân”. Cũng trong “Truyện Kiều”, chữ “xuân”  còn được dùng để miêu tả vẻ đẹp của những người phụ nữ: “Làn thu thủy, nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”, “Bóng hồng nhác thấy nẻo xa/ Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai”. 

Dĩ nhiên không chỉ có niềm vui, mùa xuân còn gắn cả với những nỗi buồn, nỗi cô đơn lẻ loi của một khát khao hạnh phúc còn dang dở như trong thơ Hồ Xuân Hương: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con” (Tự tình 2), “Chơi xuân có biết xuân chăng tá/ Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không” (Đánh đu).

2. Phong trào Thơ Mới 1932 – 1945, đỉnh cao của thơ ca Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20 có rất nhiều thi phẩm độc đáo, xuất sắc về mùa xuân, nhưng tựu trung lại có thể chia làm hai khuynh hướng: mùa xuân gắn với nỗi buồn và mùa xuân gắn với niềm vui. Nỗi buồn giống như một thứ mỹ cảm bao phủ bàng bạc khắp Thơ Mới bởi nó ngầm chứa tâm trạng của tầng lớp tri thức trong hoàn cảnh nước nhà còn mất độc lập tự do, chưa thể tìm thấy hay xác định rõ ràng một con đường tương lai cho mình. 

Chế Lan Viên đang ở trong tuổi xuân mà viết những câu thơ từ chối mùa xuân, chán ghét mùa xuân: “Tôi có chờ đâu có đợi đâu/ Đem chi xuân đến gợi thêm sầu/ Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau/ Ai đâu trở lại mùa thu trước/ Nhặt lấy cho tôi những lá vàng/ Với của hoa tươi muôn cánh rã/ Về đây đem chắn nẻo xuân sang” (Xuân). 

Hàn Mặc Tử thì viết bài lục bát “Sầu xuân” gồm 12 câu mà có đến 14 chữ xuân, chữ xuân nào cũng buồn bã lạnh lùng hoang vắng trống trải. Bi kịch của con người được đẩy cao đến độ, khi đã trốn vào hạnh phúc của ân ái, của tình yêu đôi lứa mà vẫn không thoát khỏi nỗi buồn: “Thề xuân dù chẳng vuông tròn/ Khóa buồng xuân lại vẫn còn sầu xuân”. 

Mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính cũng thật buồn với nỗi ly biệt quê hương, xa nhà nhớ chị và tấm thân phiêu bạt giang hồ: “Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió/ Xuân này em chị vẫn tha hương/ Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ/ Son sắt say hoài rượu viễn phương/ Em đi non nước xa khơi quá/ Mỗi độ xuân về bao nhớ thương” (Xuân vẫn tha hương). 

Nhưng cũng chính những thi sĩ trên lại có những vần thơ khác về mùa xuân tươi vui, trong trẻo:“Trong làn nắng ửng khói mơ tan/ Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng/ Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lý/ Bóng xuân sang” (Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử), “Đây cả mùa xuân đã đến rồi/ Từng nhà mở cửa đón vui tươi/Từng cô em bé so màu áo/ Đôi má hồng lên, nhí nhảnh cười” (Thơ xuân – Nguyễn Bính). 

Nhưng say đắm tươi vui rạo rực nồng nàn với mùa xuân nhiều hơn cả trong phong trào Thơ Mới phải kể đến Xuân Diệu, người từng được mệnh danh là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới, hoàng tử thơ tình: “Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già/ Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất/ Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật… Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!” (Vội vàng), “Xuân của đất trời nay mới đến/ Trong tôi xuân đã đến lâu rồi” (Nguyên đán), “Tình không tuổi và xuân không ngày tháng” (Xuân không mùa).

Cảnh sắc mùa xuân - Ảnh internet.
Cảnh sắc mùa xuân - Ảnh internet.

3. Cách mạng Tháng 8 thắng lợi, cả đất nước chuyển mình bước sang trang sử mới. Mùa xuân trong thi ca từ nay dứt hẳn vẻ buồn bã u uẩn, chỉ còn lại niềm tin vào ngày mai tươi sáng. 

Mùa xuân trở thành biểu tượng tươi đẹp trong một loạt ca từ của những ca khúc kháng chiến xuyên suốt từ thời kỳ chống Pháp sang thời kỳ chống Mỹ: “Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng. Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi” (Đảng cho ta một mùa xuân – Nhạc và lời: Phạm Tuyên), “Ước mơ những mùa xuân bóng dáng tương lai” (Bài ca hy vọng – Nhạc và lời: Văn Ký), “Người thiếu nữ ấy như mùa xuân, chị đã dâng cả cuộc đời” (Biết ơn chị Võ Thị Sáu – Nhạc và lời: Nguyễn Đức Toàn), “Đất nước hòa bình hạnh phúc ta như mùa xuân” (Tình ca Tây Bắc – Nhạc: Bùi Đức Hạnh, thơ: Cầm Giang), “Vì độc lập tự do, quyết giành ấm no giành lấy những mùa xuân” (Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân – Nhạc và lời: Huy Thục), “Em là chồi biếc của mùa xuân Việt Nam” (Người con gái sông La – Nhạc: Doãn Nho, lời: Phương Thúy), “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” (Dáng đứng Việt Nam – Nhạc: Nguyễn Chí Vũ, thơ: Lê Anh Xuân). 

Đại thắng mùa xuân năm 1975 thống nhất hai miền là nguồn cảm hứng để nhạc sĩ Văn Cao viết nên tuyệt phẩm “Mùa xuân đầu tiên” với những ca từ giàu chất thơ, gây xúc động lòng người: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về. Mùa bình thường mùa vui nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên…”. 

Bước sang thời bình, mùa xuân càng nở rộ hơn nữa trong nhiều sáng tác của các nhạc sĩ, thi sĩ. Mùa xuân gắn với sự chuyển mình của cả dân tộc, cùng nhau xây dựng đất nước quê hương trong thời kỳ mới, mùa xuân gắn với tình yêu đôi lứa, gắn với sự cống hiến góp sức của từng con người. 

Có thể kể đến vô vàn những ca khúc mùa xuân sau 1975, trong đó nhiều ca khúc được phổ từ những bài thơ: “Mùa xuân bên cửa sổ” (Nhạc: Xuân Hồng, thơ: Song Hảo), “Mùa xuân nho nhỏ” (Nhạc: Trần Hoàn, thơ: Thanh Hải), “Mùa xuân làng lúa làng hoa” (Nhạc và lời: Ngọc Khuê), “Tình ca mùa xuân” (Nhạc: Trần Hoàn, thơ: Nguyễn Loan), “Hơi thở mùa xuân”, “Lắng nghe mùa xuân về” (Nhạc và lời: Dương Thụ), “Lời tỏ tình của mùa xuân” (Nhạc và lời: Thanh Tùng)…

Trong một bài viết nhỏ, khó mà có thể kể hết, phân tích cho hết những tác phẩm về mùa xuân trong dòng chảy vĩ đại của nguồn thi ca dân tộc. Cuộc đời mỗi con người có thể được đón nhiều mùa xuân, nhưng mùa xuân đẹp nhất chính là mùa xuân ở trong tâm hồn người. Khi có niềm tin và tình yêu thì cũng có nghĩa là mùa xuân sẽ còn mãi mãi, mùa xuân luôn vẫy gọi ta phía trước như trong câu thơ mà thi sĩ Bùi Giáng đã viết cách đây hơn nửa thế kỷ: “Xin chào nhau giữa con đường/ Mùa xuân phía trước miên trường phía sau” (Chào nguyên xuân).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).