Mùa xuân - Miền cội nguồn ý nghĩa!

Từ miền thượng nguồn nguyên thủy, dòng xuân mùa xuân chảy vào văn hóa nhân loại làm sinh sôi, nảy nở, tốt tươi biết bao những rừng cây biểu tượng mới. Xin phép được đi tìm những cội nguồn ý nghĩa ban đầu.

Thần thoại Hy Lạp kể, trong một thung lũng đẹp như cảnh thần tiên, Pecxêphôn cùng bầy tiên nữ tung tăng chơi đùa ngắm hoa nở, nghe chim hót, cùng nhau vui đùa dưới ánh mặt trời ấm áp... Bỗng nàng Pecxêphôn bị rơi xuống vực thẳm. Đang trên Ôlanhpơ thiên giới, nữ thần Ðêmête vĩ đại - vị thần Lúa mì, đất đai, trồng trọt và mùa màng lao vút xuống hạ giới tìm con.

Đi khắp nơi, đến ngày thứ mười, thần Mặt trời Hêliôt báo cho biết con nàng bị thần cai quản thế giới âm phủ Hađet bắt xuống đó làm vợ. Quá đau đớn, nữ thần biến thành một bà già mặc áo dài đen, đi lang thang ở thành Aten. Vì không còn ai trông nom đất đai, cây cỏ, hoa màu, không có mưa móc, đất đai khô cằn, cây cỏ rũ héo... Dớt vội triệu tập một buổi họp đặc biệt để tìm giải pháp đối phó. Chỉ có một cách là mời Ðêmête trở về. Nhưng đều thất bại... Dớt đành hạ lệnh Hađet phải trả lại Pecxêphôn cho mẹ nàng!

image001.jpg -0
Tranh minh họa Nữ thần Pecxêphôn vui đùa cùng bầy tiên nữ.

Vui mừng cực độ, Pecxêphôn không hề biết Hađet dễ dàng chịu thua cuộc. Hắn đã dùng phép lạ để nàng không rời bỏ hẳn được cõi âm.

Trở về với trần gian là được về với thế giới của ánh sáng, hoa thơm và cỏ ngọt. Đang đau đớn buồn bã, được gặp mẹ, khuôn mặt Pecxêphôn bừng lên hạnh phúc rạng rỡ. Nàng từ cõi chết về với cõi sống. Nhưng, mỗi năm do bùa phép thâm hiểm của Hađet, nàng phải xa mẹ bốn tháng để xuống âm phủ chịu kiếp làm vợ vị chúa tể âm ty. Đó là những ngày buồn của cả thế gian, cây trên cành gầy guộc. Lá úa vàng, rụng rơi. Đất khô rắn lại. Sông hồ đóng băng... Tất cả một màu thê lương. Đó là những ngày cuối thu và suốt cả mùa đông... Tuần hoàn một năm, khi Pecxêphôn từ âm phủ trở về là đầu xuân sinh sôi ấm áp rồi mùa hè rực rỡ tràn trề sức sống, tiếp đến là mùa thu óng ả nhưng đượm buồn màu của chia ly...

Tên gọi Pecxêphôn, theo nghĩa Hy Lạp cổ vừa có nghĩa là "mang lại, đem đến" vừa có nghĩa "gây ra cái chết". Thì ra cái triết lý sâu xa của người cổ xưa thật thâm thúy: trong sinh sôi có chứa mầm hủy diệt, trong phát triển đã có sự lụi tàn. Một năm nàng Pecxêphôn được hưởng chín tháng hạnh phúc, chỉ phải chịu bốn tháng buồn đau. Là con yêu của vị thần trông coi Hạnh phúc còn thế, huống là con người thường? Trong quy luật đời sống, cái chết là sự kết thúc nhưng mở ra sự sống khác. Cánh cửa này khép lại, cánh cửa khác mở ra.

Về sau nhân loại mới hiểu câu chuyện nói về chu trình sự sống cũng chính là chu trình gieo trồng: giống gieo xuống đất hay nàng Hađet bị bắt cóc xuống âm ty; sẽ thành những hạt mầm khi Hađet hợp nguyên vai trò vừa là tiên vừa là vợ vua âm phủ; được trở về với mẹ Ðêmête sẽ nảy mầm hy vọng tốt tươi… Đó là một quá trình gieo mầm, cựa mình "hoài thai" rồi nảy nở… của thế giới thực vật, bắt đầu là chồi nụ mùa xuân rồi kết trái vào mùa thu… Vì lẽ này nhân loại coi Pecxêphôn vừa là nữ thần Mùa xuân cũng là nữ thần Thiên nhiên (goddess of Nature).

Thế là mùa xuân trở thành biểu tượng của sinh sôi, nảy nở, phát triển và hy vọng.

Thần thoại Hy Lạp còn có câu chuyện tiếng sáo thần Pan chăn dê - vị thần của sự hoang dã đồng quê, của những người du mục cùng các đàn gia súc, của tự nhiên và những ngọn núi hoang vu cùng việc săn bắn. Sau này âm nhạc đồng quê tôn Pan làm ông Tổ. Bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "pan" có nghĩa là "gặm cỏ", có hình thù một nửa thân dưới của loài dê, lại có cặp sừng dê nên Pan được xem là vị thần của những cánh đồng, những khu rừng nhỏ và thung lũng nên được gắn với khả năng sinh sôi và mùa xuân.

image002.jpg -1
Một màn hát Xoan.

Văn hóa thảo nguyên phương Đông tôn loài sói là vật tổ (totem) cũng có nét nghĩa gắn liền với mùa xuân sinh sôi. Từ xưa thiên địch của sói là chính con người. Để tồn tại, phát triển, sói có tập quán chỉ đẻ con vào mùa xuân? Vì thời điểm đó người phải chăm sóc cừu đang mùa sinh sản nên ít có thời gian đào hang bắt sói con. Sói bố mẹ cũng dễ bắt cừu non mang về để sói con tập săn mồi… Sói còn rất tình nghĩa. Đi săn về sói luôn mang "chiến lợi phẩm" - những con mồi tươi ngon nhất cho sói già, sói non.

Gia đình sói là hình mẫu để con người học tập về tình yêu thương, đoàn kết, chở che lẫn nhau. Vợ chồng sói chung thủy với nhau suốt đời. Khi bị người đuổi bắt, sói chồng sẽ làm "mồi nhử" để người tránh xa hang ổ gia đình nó… Thế là con người lại phải học tập sói, "thiêng hóa" sói thành "vật tổ". Sói đi vào văn hóa thảo nguyên gắn liền với mùa xuân (nghĩa biểu vật) và chỉ những gì nảy nở, sinh sôi và sự yêu thương, đoàn tụ, hạnh phúc (nghĩa biểu niệm).

Văn hóa Việt tự hào có nhiều truyền thuyết rất hay về mùa xuân. Chùm truyền thuyết Vua Hùng kể, vào cữ xuân, vợ vua Hùng tới kỳ "mãn nguyệt khai hoa" mà chưa đẻ được. Một hầu nữ hiến kế: mời nàng Quế Hoa xinh đẹp, hát hay, múa giỏi về "biểu diễn" có thể làm đỡ đau và dễ đẻ.

Quả nhiên được xem/nghe những lời hát mới lạ, những điệu múa mê hoặc, vợ Vua Hùng như quên đau mà sinh hạ một lúc ba người con trai. Vua Hùng vui mừng khôn xiết hết lời khen ngợi Quế Hoa và truyền các mỵ nương (con gái) học các điệu múa hát ấy, vua gọi là Hát Xuân. Về sau kiêng tên húy của một người con gái Vua Hùng có tên Xuân Nương mà gọi chệch là Hát Xoan.

Một truyền thuyết khác kể ở làng Hương Nộn (Tam Nông), nữ tướng Xuân Nương cùng Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đuổi quân nhà Hán. Một lần vào dịp xuân dẫn quân qua làng Hương Nộn thấy điệu múa lạ, lời hát hay Bà bèn cho quân lính học. Từ đó để tưởng nhớ người anh hùng có công với nước, làng tổ chức Hát Xuân. Vì tên bà là Xuân Nương nên đổi chệch là Hát Xoan.

Những truyền thuyết trên có thể khẳng định thời điểm ra đời của Hát Xoan có từ thời Hùng Vương, gắn liền mảnh đất cổ Phong Châu (Phú Thọ, Việt Trì, Lâm Thao, Tam Nông, Tản Viên…). Tại sao nhiều truyền thuyết gắn liền với việc sinh đẻ?

Dân số thời Hùng Vương chỉ khoảng 40,50 vạn, mà nước Văn Lang đã phải đối phó với nhiều kẻ thù, lắm thiên tai nên rất cần nhân lực. Do vậy việc sinh đẻ rất được coi trọng. Nhưng "người chửa cửa mả" (tức gần với cái chết) nên con người càng quý (câu tục ngữ "Người ta là hoa đất" chắc có từ rất sớm). Nếu người phụ nữ sinh ra một con người, một sinh mệnh mới, thì Hát Xoan tái sinh con người, tạo ra một con người mới lớn lao, trưởng thành hơn về tâm hồn, về tình cảm, tinh thần. Chi tiết nhờ xem múa hát mà đẻ được vừa gắn Hát Xoan với niềm vui lớn nhất của con người nhưng cái chính là ca ngợi sức chinh phục, thu phục, thuyết phục của Hát Xoan.

Trước đây mỗi năm có 3 cuộc Hát Xoan được tổ chức vào ngày mồng 3 tháng Giêng; mồng 10 tháng 3 (ngày giỗ Vua Hùng) và mồng 10 tháng 9 (lễ thờ Vua Hùng). Xoan cổ có 14 làn điệu (quả cách) mở đầu là "Mời vua" (hát tràng mai) rồi mới đến "rãy cách", "ngâm cách"… "cài huê cách".

Mỗi làn điệu có kép (nam) và đào (nữ), chỉ với hai nhạc cụ chính là trống và phách. Mở đầu là trống và phách rồi đến đào hát kết hợp với tay múa, chân nhón, mắt hướng vào Thượng cung. Tất cả đều được diễn xướng nhịp nhàng. Trang phục truyền thống là áo tứ thân màu sậm, váy đụp và chít khăn mỏ quạ… Những câu hát, điệu múa, trang phục đều tập trung ca ngợi thiên nhiên mùa xuân tốt tươi, ca ngợi con người chăm chỉ, cần cù, yêu thương cùng nhau đoàn kết hướng về nguồn cội Hùng Vương!

Thời Vua Hùng có tục lấy nắm đất và gói muối làm vật tượng trưng cho hôn nhân. Tập tục ấy ánh xạ trong làn hát Xoan "Mời rượu": "Tay nâng chén muối (ối a) ố mấy gừng (gừng đĩa gừng)/ ố mấy rằng gừng cay, gừng cay muối mặn/ (ối a) ố mấy đừng (đừng xin đừng) xin đừng quên nhau (ố mấy ru tình ru, ố mấy ta ru hời)…". Trên đời này có gì quý hơn đất đâu, có gì mặn hơn muối đâu. Cái quý nhất, cái mặn mà nhất là tinh hoa của hôn nhân để kết trái hạnh phúc. Đó chẳng phải là triết lý để hôm nay chúng ta phải học tập sao?

Năm nay, theo quan niệm phương Đông là năm con Rắn, chỉ hướng nam - đông nam, mang khí dương, sinh sôi, mạnh mẽ. Theo thần thoại Hy Lạp thì Zeus - vị thần tối cao, khi mùa xuân đến thần sẽ xuất hiện dưới dạng một con rắn cùng với nữ thần cai quản trái đất Rhea cũng mang hình rắn. Như vậy năm Rắn sẽ là năm tốt lành, may mắn, thịnh vượng!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).