Một lối đi của hoa hồng

Tôi luôn luôn nghĩ, thể thơ lục bát là thể thơ khó nhất đối với các nhà thơ viết tiếng Việt và đề tài khó nhất trong thơ ca là đề tài về tình yêu. Cái “đầm lầy” mà không ít các nhà thơ ở Việt Nam viết thơ tình thường bị sa vào đó là thiếu sự suy tưởng về tình yêu mà thừa cảm xúc thông thường. Chính vì lẽ đó mà khi lướt qua tập bản thảo “Sải cánh giữa chiêm bao” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh Loan, tôi thực sự lo lắng.

Với một tập thơ khá dày mà hầu hết là thơ tình thì quả là một thách thức với nhà thơ. Nếu lại nước mắt tràn trề, lại trái tim tan vỡ, lại bờ môi rách nát, lại thề nguyền sống chết vì tình yêu...thì quả là một nguy cơ dẫn đến sự thất bại.

Và thật may mắn, trong tập thơ “Sải cánh giữa chiêm bao”, tác giả đã không sa vào cái “đầm lầy” ấy và vì thế tôi cũng không bị sa vào nó. Chị viết về tình yêu với nhiều cung bậc của cảm xúc, nhiều suy nghĩ về hạnh phúc lứa đôi, nhưng điều quan trọng nhất là mỗi bài thơ của chị đã gọi ra một điều gì đó của tình yêu bằng chính hình ảnh, hình tượng mà ngôn ngữ thi ca mang lại. 

Trước hết, “Sải cánh giữa chiêm bao” là một giấc mơ về tình yêu, trong sự tự do, phóng khoáng của ngôn từ và tiềm thức. Một lối đi, một cách bay, một cách tiếp cận riêng mà tác giả đã chọn để thâm nhập vào thế giới tình yêu, một đề tài muôn thuở nhưng được các nhà thơ luôn để mắt tới.

Và các nhà thơ luôn có tham vọng diễn đạt mới về những cảm xúc cũ nhưng như tôi nói ở trên, điều này thật không dễ dàng. Nhưng có lẽ vì chọn “sải cánh giữa chiêm bao”, bằng trái tim nồng nàn nữ tính, sự tinh tế của tâm hồn, sự bay bổng tuyệt vời của một giấc mơ, dù cho có thể đó là sự đổ vỡ, mất mát và tận cùng cái chết… nên Nguyễn Thị Hạnh Loan đã gọi tên được bằng thơ những triết luận tình yêu sau những cảm xúc yêu đương muôn thuở và quen thuộc của con người.

"Sải cánh giữa chiêm bao" của tác giả Nguyễn Thị Hạnh Loan.

"Sải cánh giữa chiêm bao" của tác giả Nguyễn Thị Hạnh Loan.

Đọc xong bản thảo tập thơ này, trong tôi bỗng hiện lên một lối đi mà tôi gọi đó là “MỘT LỐI ĐI CỦA HOA HỒNG”. Bởi mỗi bài thơ trong suốt tập thơ là mỗi khóm hoa hồng vừa rực rỡ màu sắc, vừa nồng nàn hương thơm vừa nhiều gai sắc. Và tôi đã đi dọc lối đi ấy trong sự hiện diện của những câu thơ.

Trên vầng trán em thanh tân
Vòng kim cô ái tình lấp lánh
Những vết thương ứa nhựa kết thành bao viên ngọc
Xin trốn vào tim anh một góc lâu đài...

Con người luôn chống lại sự nô lệ và vươn tới tự do. Nhưng trong tình yêu, sự nô lệ lại trở thành khát vọng của trái tim, lại trở thành sự tự nguyện đầy hạnh phúc và kiêu hãnh của người đàn ông và người đàn bà. Tình yêu là thứ cũ nhất trong vũ trụ này, nhưng kỳ lạ thay lúc nào nó cũng luôn chứa đựng muôn vàn bất ngờ và sự quyến rũ không cưỡng nổi. Biết là yêu sẽ có ngày phải ly biệt, phải đau đớn, vậy mà con người lúc nào cũng dấn thân vào. Và thơ ca cũng vậy.

“Trên vầng trán em thanh tân” là một câu thơ tôi đọc nhiều lần. Từng từ không có gì mới, nhưng khi những từ tưởng như sáo mòn ấy được gắn kết trong một trật tự mới thì mọi điều liên quan đến nó đều trở lên mới mẻ. Tình yêu là thế và thơ ca cũng như vậy, không có gì khác biệt.

Một ngày kia thế giới
Nói về loài cây xanh
Hạ sinh từ duyên kiếp
Cơn mưa vàng tình anh...

Bốn câu thơ trên viết ra như từ tiềm thức. Tôi vừa hiểu thấu bốn câu thơ này vừa không hiểu gì. Nhưng sự ám ảnh của cái cây kia, của cơn mưa vàng kia là một vẻ đẹp. Bốn câu thơ như một khoảnh khắc của một cơn mộng mị vừa thực lại vừa hư và vừa hư lại vừa thực. Và trong khoảnh khắc mộng mị đó lại gửi đi một thông điệp về tình yêu mà người đọc thực sự không nhận được bằng một văn bản có đóng dấu mà bằng một trực giác và những cảm nhận mơ hồ nhưng không thể nào tan biến trong mọi điều kiện.

Rồi tất cả sẽ tan vào mây khói
Trách chi tình lạc lối giữa nhân gian
Nếu lỡ hẹn ta đổ thành duyên phận
Mai tìm nhau trong đỉnh gió mây ngàn...

Niềm hy vọng tột cùng vào những gì tốt đẹp là một sự thật, là một điều kỳ diệu trong tình yêu. Cho dù bao đôi lứa không thể ở bên nhau đời đời, cho dù tình yêu họ bị ngăn cách bởi một lý do nào đó, cho dù họ phải ly biệt trong ngập tràn nước mắt đớn đau thì họ vẫn mong một ngày nào đó họ sẽ ở bên nhau trọn vẹn. Người đời thường nói kiếp này không được ở bên nhau thì hẹn nhau ở kiếp sau. Khát khao ấy trong tình yêu của con người từ cổ chí kim đều như vậy. Nhưng khi viết về điều đó thì nhà thơ phải tìm một cách nói sáng tạo để cái điều muôn thuở trong bản chất kia phải hiện ra như một khám phá. Và câu cuối của khổ thơ “Mai tìm nhau trong đỉnh gió mây ngàn...” đã hoàn thành sứ mệnh của văn chương nghệ thuật viết về tình yêu.

Sẽ có ngày hối tiếc
Tình như nước qua cầu
Em trôi về xưa cũ
Để mình anh thương đau...

Những câu thơ giản dị, bàng bạc như một lời ly biệt. Những câu thơ thực sự làm tôi rơi vào không gian buồn bã như tôi là một trong hai người kia. “Nước”, “trôi”, “xưa cũ”... tất nhiên là những từ vựng quen thuộc nhưng trong sự gắn kết của những câu thơ trên trong một không gian như vô định làm nên cảm giác khó quên. Nó dựng lên hiệu quả cảnh ly biệt lứa đôi. Thơ ca có nghĩa vụ dựng lại cái không gian và thời gian ấy của một sự kiện của đời người.

Em khờ khạo trước những lời đường mật
Lãng quên chàng trong phút chốc tình say
Rồi ngờ đâu con kỳ nhông cảm xúc
Bỗng hiện hình trong chiếc áo em thay

Hai câu thơ đầu là những câu thơ...cũ, mòn. Nhưng đến hai câu thơ sau và đặc biệt là câu thơ cuối thì toàn bộ khổ thơ hay bài thơ đã đổi thay. Một trong những đặc tính cuả thơ là làm cho người đọc bị ám ảnh, cho dù không hiểu nó một cách rành mạch. Cái không rành mạch ấy luôn làm ta liên tưởng, gợi mở và hòa vào cái không gian, trôi cùng cái thời gian mà những câu thơ đã dựng lên. Tôi không muốn bình tán hai câu thơ đó. Tôi chỉ muốn được lặng im và chìm đắm vào cảm giác và suy tưởng mà hai câu thơ mang lại.

Em bừng tỉnh giữa vườn hồng mê đắm
Chàng trồng cho em dẫu mưa nắng dập vùi
Lỡ mai kia hoa tàn vào xa thẳm
Xin nồng hương theo em suốt cuộc đời...

Nguyễn Thị Hạnh Loan thường xuyên có những câu thơ cuối rất quan trọng của khổ thơ hay của bài thơ. Nói như nhiều nhà phê bình là những câu thơ trước những câu thơ đó là dây cháy còn câu cuối là thuốc nổ. Nếu không có những câu thơ “cuối” như thế, thì những bài thơ của tác giả sẽ đi về đâu. Nếu diễn nôm về tình yêu, người ta sẽ nói: Đến một ngày nào đó chúng ta không còn ở bên nhau, nhưng những gì chúng ta mang lại cho nhau trong những ngày yêu nhau sẽ theo em mãi mãi đến hết đời. Và tôi vẫn phải nói lại một ý ở trên rằng: Nếu không tìm ra một lối đi riêng thì thi ca sẽ chết vì mọi thứ có trong vũ trụ này đã quen thuộc tưởng như không còn gì nói thêm nữa.

Quệt lên mắt tháng Ba
Một vết màu xoan tím
Xức lên tóc tháng Ba
Hương hoa xoan lìm lịm
Em đi trong mùa chin
Nhớ tháng ba năm sau
Anh còn bên em nữa
Hay lạc bước nơi nào?

Thể thơ năm chữ thường mang đến cho người đọc sự dịu dàng, man mác. Cách nói của những câu thơ trên là cách nói của những người con gái đang yêu: trong sáng, chân thực, làm dáng và thường đầy nước mắt. Thế mà những câu thơ giản dị và thương cảm ấy lại vang lên đẹp và buồn bã. Lý giải thế nào về điều này. Có lẽ cần phải suy nghĩ kỹ lưỡng và có thời gian.

Hoa đã thuộc về mùa cũng như em mãi thuộc về anh
Quy luật của tự nhiên, quy luật của trái tim không thể nào khác được
Chẳng thể bắt hoa nở trái mùa và tình yêu lạc bước
Chẳng thể gọi tên mùa nếu thiếu những màu hoa...

“Em đã thuộc về anh” là câu nói của rất nhiều và rất nhiều người con gái khi yêu. Chính trong đời tôi đã từng đôi ba lần nghe câu nói ấy. Nếu chỉ để nói như vậy thì chúng ta không cần nhà thơ. Và nếu không có nhà thơ thì câu nói kia hay cảnh giới kia sẽ không đi theo ai đó trong một thời gian dài và có thể hết đời. Nhưng khi viết “hoa đã thuộc về mùa” thì câu chuyện tình yêu muôn thuở đã chứa đựng triết lý về cuộc đời này chứ không chỉ trong tình yêu. Nhà thơ là người xuất hiện đúng lúc và cần thiết khi một vẻ đẹp cuộc sống hiện ra để gọi tên nó và lưu giữ nó lại với thời gian.

Ta đã sai
Khi cố tìm lại giấc mơ
Cố vẽ cho mình chiếc cầu vồng bảy sắc
Nhưng sự thật
Lẽ ra chúng ta nên hiểu điều đơn giản nhất
Một tình yêu chỉ một lần đánh mất
Là mãi mãi phù vân
Một con đường không có hai lối rẽ
Một dòng sông không ai tắm hai lần...

Mọi thứ đánh mất có thể tìm lại được, nhưng có lẽ đánh mất tình yêu với một người cụ thể sẽ chẳng bao giờ tìm lại được. Những câu thơ trên đầy tính triết lý nhưng lại đau đớn vô cùng. Trong đó có đôi mắt mở to bình thản trong giã từ, có sự ngạt thở của nhớ thương, có rã rời của mệt mỏi, có kiệt sức của tuyệt vọng.

Nhưng trong tình yêu, một chân lý là: Càng đau đớn thì tình yêu vẫn còn như câu thơ viết về hương thơm vẫn theo người con gái mãi mãi cho dù những bông hồng tình yêu đã hết mùa, rã cánh. Tác giả Nguyễn Thị Hạnh Loan đã hiểu được điều này và đã làm điều đó hiển lộ trong những câu thơ của chị. Chính vì thế mà tôi gọi tập thơ của chị là“MỘT LỐI ĐI CỦA HOA HỒNG”.

Hà Đông, tháng 8/2018

Nguyễn Quang Thiều

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).