Một dịch giả vừa có tầm, vừa có tâm

Quang Chiến là người không chỉ có tầm mà còn có tâm nữa. Ông tâm sự: "Trên thế giới này, tôi chưa từng thấy một nhà thơ nào yêu Việt Nam, quan tâm đến Việt Nam, hết lòng vì Việt Nam như nhà thơ Áo Erich Fried, cho dù ông chưa một lần đến Việt Nam và đã mất vào năm 1988". Ông phàn nàn: "Vậy mà cho đến lúc qua đời, ở Việt Nam chưa có một tập thơ nào của Erich Fried được xuất bản và hầu như chưa có ai biết đến thơ viết về Việt Nam của Erich Fried!"...

1. Không phải ngẫu nhiên mà Bertolt Brecht - nhà thơ lớn người Đức, cách nay đã 65 năm lại cho rằng thơ mình là một mãnh sư. Thế nên, trong bài thơ "Về con sư tử bằng gốc chè Trung Hoa", ông đã viết: "Những kẻ xấu sợ nanh vuốt ngươi/ Những người tốt yêu dáng ngươi đẹp đẽ/ Về thơ tôi/ Tôi cũng muốn nghe/ Những lời như thế". Đó là những câu thơ rất đặc trưng phong cách Bertolt Brecht. Có lẽ, cũng từ cái gốc gác này mà nhiều nhà lý luận, phê bình của thế giới đã coi Bertolt Brecht là "Con sư tử trong thi ca".

Tất nhiên, Bertolt Brecht không chỉ có "Về con sư tử bằng gốc chè Trung Hoa" mà ông còn nhiều bài thơ thuộc diện tuyệt tác khác. Về độ khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh, không ai có thể viết hay hơn ông: "Đêm nay những lứa đôi gặp gỡ/ Ngày mai cho ra đời những đứa trẻ mồ côi" (Đêm đến). Viết về người ác, khó ai có thể viết thay ông: "Làm người ác khó nhọc vô cùng" (Mặt nạ kẻ ác). Và ông lớn đến mức khó tưởng tượng nổi khi bật ra những câu thơ: "Khi mọi lỗi lầm đều tiêu tan hết/ Người bạn sau cùng/ Ngồi đối mặt với chúng ta/ Là Hư Vô" (Tặng người sinh sau).

Với tôi, thơ Bertolt Brecht luôn là một thứ ánh sáng chói chang và là những "vết chém" nghệ thuật hằn sẹo trong trí nhớ.

Dịch giả Quang Chiến.
Dịch giả Quang Chiến.

Vì yêu thơ Bertolt Brecht và yêu Bertolt Brecht mà có dạo vợ chồng nhà thơ Thế Dũng đã từ Đức trở lại Việt Nam, mở một quán ăn mang tên Sư Tử trên đường Thái Hà (Hà Nội). Rồi có một đêm, trong một dịp World Cup, quán Sư Tử đã tổ chức một đêm thơ giản dị và trang trọng để tưởng nhớ Bertolt Brecht với sự  có mặt của GS.TS Đình Quang và dịch giả Quang Chiến. Đây là bất ngờ đầu tiên đối với tôi.

Trong dịp này, tôi đặt ra một thắc mắc với dịch giả Quang Chiến: "Thưa anh, sao Bertolt Brecht nổi tiếng thế, mà từ bao nhiêu năm nay, chưa có một tập thơ dịch nào của riêng ông được xuất bản?". Dịch giả Quang Chiến im lặng, không nói gì. Chẳng ngờ sau đấy không lâu, có một lần ngay ở trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam - hồi Quang Chiến còn tham gia Hội đồng dịch và Tạp chí Văn học nước ngoài, ông đã giải đáp thắc mắc của tôi bằng cách tặng tôi tập "Thơ trữ tình Bertolt Brecht" được ấn hành vào tháng 2- 2006 qua Nhà Xuất bản Hội Nhà văn và Công ty Văn hóa và truyền thông Nhã Nam. Đây là bất ngờ thứ hai đối với tôi.

Nhận cuốn sách từ tay Quang Chiến, tôi rưng rưng cảm động. Tôi có cảm giác như được nhận từ ông với tấm lòng yêu thơ nói chung và yêu thơ Bertolt Brecht nói riêng, như chỉ để dành cho riêng tôi.

"Thơ trữ tình Bertolt Brecht" là một tuyển thơ, có cả thảy 59 bài được tuyển chọn từ 2.000 bài nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của Bertolt Brecht và do các nhà thơ các dịch giả: Tế Hanh, Đào Xuân Quý, Trần Dần, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Nguyễn Quân, Quang Chiến chuyển ngữ; Quang Chiến tuyển chọn với "Lời chào mừng" của Viện trưởng Viện Goethe tại Việt Nam: Franz Xaver Augustin.

Trong "Lời chào mừng", có đoạn: "Xin thân ái cảm ơn người đã khởi xướng công trình: Nhà văn - dịch giả Quang Chiến. Tôi xin chúc tập thơ bé nhỏ này sẽ giúp bạn đọc Việt Nam yêu thơ có dịp hiểu rõ hơn sự vĩ đại trong văn chương của Bertolt Brecht và có những kỷ niệm khó quên".

2. Phải 5 lần 7 lượt gọi điện thoại hẹn, tôi mới gặp được dịch giả Quang Chiến. Thời điểm học sinh, sinh viên đang nghỉ hè, ông rất bận. Học trò học tiếng Đức của ông rất đông. Do vậy, ông phải lên lịch cụ thể hàng ngày, hàng tuần để dạy hoặc nâng cao thêm tiếng Đức cho nhiều học sinh chuẩn bị du học ở Đức và sinh viên đang du học ở Đức tạm trở về Việt Nam.

Qua trò chuyện, tôi mới hay: Ngoài các công trình về ngôn ngữ, văn học và triết học Đức đã dịch và xuất bản, tính đến nay, ông đã chuyển ngữ khoảng vài chục tác phẩm văn học Đức tiêu biểu ở các thể loại: Tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kịch và thơ; trong đó, riêng việc chuyển ngữ trọn bộ "Faust" của đại thi hào Goethe đã choán của ông một khoảng thời gian là 10 năm.

Ông nói: "Faust không anh hùng hóa, không thần thánh hóa, thực chất là bi ca không phải là anh hùng ca. Faust không chỉ lớn về thi ca, mà còn lớn bởi phần tri thức tổng hợp của nhân loại, có giá trị như một bách khoa thư".

Ông nói: "10 năm toàn công, toàn sức, toàn ý dành cho Faust, thì thử hỏi lấy gì để trả cho xứng? Một khi anh đã đến với văn chương, dù ở cách này hay cách khác, thì đừng toan tính gì hết và cũng phải tự bằng lòng với mình, đồng thời phải tự hiểu: Mình có thể hết lòng vì nó cho dù không thể sống bởi nó".

Quang Chiến là người không chỉ có tầm mà còn có tâm nữa. Ông tâm sự: "Trên thế giới này, tôi chưa từng thấy một nhà thơ nào yêu Việt Nam, quan tâm đến Việt Nam, hết lòng vì Việt Nam như nhà thơ Áo Erich Fried, cho dù ông chưa một lần đến Việt Nam và đã mất vào năm 1988". Ông phàn nàn: "Vậy mà cho đến lúc qua đời, ở Việt Nam chưa có một tập thơ nào của Erich Fried được xuất bản và hầu như chưa có ai biết đến thơ viết về Việt Nam của Erich Fried!"

Để tri ân, Quang Chiến đã tự mình dịch hẳn một tập thơ của Erich Fried từ tiếng Đức sang tiếng Việt và cho xuất bản. Trong "Một trái tim vì Việt Nam", Quang Chiến Viết: "Trong lúc nhân dân ta kiên cường cầm súng chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ để bảo vệ độc lập và tự do của Tổ quốc, bảo vệ phẩm giá con người, thì ở rất xa Việt Nam, ở tận xứ sở sương mù Anh quốc, có một người Áo chạy trốn chủ nghĩa phát xít Đức sống lưu vong ở London, đã luôn theo dõi sát sao mọi diễn biến của cuộc chiến, đã luôn lên án gay gắt cuộc chiến tranh bẩn thỉu do Mỹ gây ra và bênh vực nhân dân ta… Đối với Erich Fried, cuộc chiến tranh Việt Nam không phải cách xa ông ngàn vạn dặm, mà rất gần, gần lắm, bởi vì:

Đất nước ấy cách ta bảy bước chân
Và một tầm đạn bắn
. . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . .
Nếu ta nhắm mắt lại
Và tĩnh lặng, ngồi yên
Ta có thể nhìn thấy
Ở trên đất nước ấy
Những gì đương xảy ra.

Và chính Việt Nam rất gần gũi với Erich Fried, cho nên, ngay từ năm 1962, ông đã có thơ về Việt Nam. Hơn thế nữa, có lẽ Erich Fried cũng là một trong số rất ít những nhà thơ nước ngoài đã rất sớm có hẳn một tập thơ về đất nước và con người chúng ta. Đó là tập thơ với tiêu đề "Và Việt Nam và…" xuất bản năm 1966, gây được tiếng vang lớn trong dư luận châu Âu, nhất là trong giới thanh niên sinh viên, học sinh…".

3. Như để bù lại những tháng năm miệt mài, vất vả vì văn chương, Quang Chiến đã tìm lại được sự an ủi, cân bằng, cứu rỗi bằng chính văn chương.

Ông kể: "Hồi đất nước còn khó khăn, đặc biệt là vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, như nhiều gia đình trí thức khác, gia đình tôi đã nuôi lợn trong nhà để tự cải thiện cuộc sống. Bản thân tôi, lúc ấy đang dịch "Nỗi đau của chàng Vecte" dưới một ngọn đèn dầu (vì hồi ấy Hà Nội rất hay mất điện).

Đôi khi ngẫm cũng thấy cực nhọc. Nhưng rồi tôi lại tìm được niềm an ủi bởi mấy câu thơ mà đọc lên thấy nhẹ lòng ngay sau đó: Vậy tôi chỉ là lữ khách/ Kẻ hành hương qua trái đất/ Các người có hơn gì tôi đâu. Nhiều lúc, trong khi dịch, tôi càng thêm thấm thía bởi các câu thành ngữ: "Hy vọng mà không hành động là tội lỗi", "Con người vươn lên trong lầm lạc và trưởng thành trong bi kịch"… Cao hứng lên ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ viết về người mình yêu của Karl Lubomirski trong sự tâm đắc tột cùng: "Em là căn phòng của tôi/ không có bức tường".

Ông bảo: "Khi dịch, bắt gặp một ý, một tứ, một tư tưởng mà mình thích, cũng có thể bột phát bừng sáng thành niềm vui trong tôi". Theo tôi, đây là những giá trị tinh thần mang ý nghĩ dài lâu trong đời sống nội tâm cá nhân mà không phải ai cũng có được. Và theo tôi, nếu so sánh với các dịch giả tiếng Đức như Đỗ Ngoạn, Nguyễn Quân, Trần Đương, Vũ Hương Giang, Lê Quang, Lê Chu Cầu, thì Quang Chiến là người dịch đều đặn và thường xuyên hơn cả.

Sau chót, xin được nói thêm: Từ năm 1957, Quang Chiến đã theo học ở một trường thiếu sinh quân ở Đức. Ông có duyên nợ với văn chương từ rất sớm. Thời điểm ấy, ông đã có hai bài thơ mang hai cái tên rất hồn nhiên: "Mỗi ngày thêm tiến thêm vui" và "Gặp bố bên bờ sông Enbơ" đoạt giải nhất một cuộc thi thơ do Báo Thiếu niên Tiền phong tổ chức. Ông có thơ dịch đăng trên Báo Văn nghệ từ năm 1973. Ông có một thời gian dài tham gia công tác giảng dạy lịch sử văn học Đức ở Khoa Đức ở một trường đại học. Ông tên khai sinh là Ngô Quang Phục nhưng lấy tên một người con trai của mình làm bút danh. Năm 1987, ông đã đoạt Giải thưởng quốc tế Grimm của Chính phủ CHDC Đức. Năm 2002, ông đoạt thêm Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).