Một công trình nghiên cứu so sánh văn học có giá trị

Đọc “Từ Kim Vân Kiều đến Truyện Kiều - so sánh và bình luận” của PGS.TS Vũ Nho, NXB Hội Nhà văn, 2016.

Có thể nói, dưới góc độ và phương pháp so sánh văn học hiện đại nhằm một mục tiêu duy nhất, chứng minh cho một tiền đề xác định từ lâu, nhưng chưa được luận chứng cụ thể, chi tiết và đầy đủ thì công trình của Vũ Nho, ở Việt Nam, cho đến nay, có lẽ là công trình khảo cứu so sánh khoa học đầu tiên về Truyện Kiều đạt kết quả khả quan, đáng ghi nhận và tin cậy.

Trước hết, về kết cấu, bố cục công trình: vừa chặt chẽ, mạch lạc, các phần, mục hô ứng, nối tiếp, liên hệ, bổ sung cho nhau cùng nhằm giải quyết một yêu cầu chung như một định đề, một tiên đề đã có sẵn, nhưng hãy còn khá mơ hồ, chưa tường minh bằng chứng lý. Tuy vậy, mỗi phần, mục lại có tính độc lập tương đối, có thể tách ra thành một bài nghiên cứu độc lập (mà thực tế là như vậy). Mô hình chung của mỗi bài trong các phần 2, 3, 4 được cấu trúc như sau:

+ Lời dẫn

+ Đối chiếu trích đoạn văn bản “Kim Vân Kiều” (KVK) của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) và “Truyện Kiều” (TK) của đại thi hào Nguyễn Du.

+ Liệt kê cụ thể từng điểm, từng chỗ, từng chi tiết, từ ngữ, hình ảnh, nhân vật, sự việc… mà Nguyễn Du đã dụng công làm khác, làm mới, đã sáng tạo trong TK so với KVK.

+ Phân giải, bình luận

Một mô hình trình bày như thế là thống nhất, xuyên suốt, mạch lạc, logich, chặt chẽ và hiệu quả. Thống kê sơ bộ, thấy chỉ riêng phần 2: Đối chiếu, so sánh các đoạn (12 bài/mục), tác giả đã phát hiện, đối sánh được tới 111 điều khác biệt về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật mà Nguyễn Du đã làm khác, làm mới, đã sáng tạo so với Thanh Tâm Tài Tử. Nếu tính cả phần 3, phần 4 nữa thì tổng cộng số lượng tìm tòi, phát hiện và phân giải của tác giả đã lên tới hơn 300 điều. Quả thật đây là những con số biết nói, rất đáng ghi nhận công phu, tinh thần say sưa kiếm tìm của nhà nghiên cứu.

Nhưng số lượng mới chỉ là một vấn đề. Quan trọng hơn là chất lượng và hiệu quả của sự tìm kiếm, đối sánh ấy ra sao?

Bìa cuốn “Từ Kim Vân Kiều đến Truyện Kiều” của Vũ Nho.
Bìa cuốn “Từ Kim Vân Kiều đến Truyện Kiều” của Vũ Nho.

Theo chúng tôi, hầu hết những điều, những điểm, những vấn đề mà tác giả soi chiếu, phát hiện để thấy rõ sự khác biệt trong TK so với KVK đều được minh chứng cụ thể bằng ý kiến, câu chữ rõ ràng, thuyết phục. Các biện pháp so sánh văn học được thực hiện một cách cẩn trọng, nghiêm túc, đúng quy trình, khách quan cho nên vừa quen vừa lạ, hấp dẫn và thuyết phục.

Chẳng hạn đoạn Từ Hải từ biệt Thúy Kiều. Đó là thêm. Còn bớt?

Đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều từ 8 trang văn xuôi trong KVK, chỉ còn 28 câu, rồi 8 câu tuyệt tác trong TK với 17 sự điều chỉnh, thêm/bớt của Nguyễn Du đã làm cho buổi Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều trở nên đặc biệt độc đáo. Có điều, tôi thấy hơi lạ là không thấy tác giả đối sánh đoạn đoàn viên Kiều – Kim tái hồi có hậu. Hay là trong đoạn này, so với Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du không có sáng tạo gì thật mới mẻ, đáng để so sánh?

Phần 3, tác giả so sánh 11 nhân vật, cả nhân vật trung tâm (Thúy Kiều) cả nhân vật chính (Từ Hải, Thúc Sinh, Kim Trọng…), cả nhân vật phụ (Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến, Thúy Vân), thậm chí nhân vật rất phụ như Kế thị (Hoạn Bà, mẹ Hoạn Thư); nhưng lại rất tiếc, không thấy tác giả đả động đến nhân vật Lưu Đạm Tiên?

Còn lại, với hầu hết các nhân vật khác, ở những mức độ khác nhau đều được nhà nghiên cứu soi chiếu, đối sánh, phân giải khá kỹ lưỡng. Người khảo cứu hậu sinh ở đây đã không ngần ngại sử dụng, trích dẫn kết quả nghiên cứu của bậc tiền bối nổi tiếng từ lâu. Tuy vậy, nhà nghiên cứu phê bình văn học hôm nay chỉ trong một đoạn Kiều - Từ gặp gỡ, đã chỉ ra được 5 điểm khác nhau mới mà Hoài Thanh năm nào chưa để ý (tr. 124 – 127).

So sánh nhân vật Thúy Kiều của Nguyễn Du với KVK của Thanh Tâm Tài Nhân là bài khảo cứu so sánh triệt để, kỹ lưỡng, công phu và tương đối toàn diện. Phân giải, đánh giá những chi tiết Nguyễn Du thêm vào cảnh Kiều quyết chịu gia hình mà không chịu về lầu xanh, không một lần xưng con, gọi má với mụ Tú Bà, đã thể hiện bản lĩnh và tính cách cứng cỏi của Thúy Kiều, điều không thấy ở KVK. Đó là đóng góp của nhà nghiên cứu. Kết luận của Vũ Nho, theo tôi, là thỏa đáng, thuyết phục.

Nhưng ở đây, tôi muốn có đôi điều trao đổi cùng tác giả.

Thứ nhất, như vậy, Kiều của Nguyễn Du, trong mắt nhà khảo cứu so sánh hôm nay, đã hoàn toàn mười phân vẹn mười, không hề có chút tì vết, hạn chế trong tính cách, sai lầm trong hành động, ứng xử? Có thể là vậy! Nguyễn Du quá yêu nàng mà khéo “che giấu”, nương nhẹ đi, nhưng vẫn lộ ra như nghiên cứu Phan Ngọc và Trần Đình Sử… từng chỉ ra. Ấy là nhẹ dạ, nông nổi, cầu an, dễ tin người, hám danh... Giá như ông đối sánh rõ thêm so với KVK xem Nguyễn Du đã làm mới hơn Thanh Tâm Tài Nhân ở những điểm nào thì còn thú vị hơn biết mấy!?

Thứ hai, về chi tiết Nguyễn Du cắt bỏ chi tiết giấc mơ của Thúy Kiều trong KVK, mong Kim Trọng hiện ra cứu mình, nhân đối thoại với Đinh Bá Anh. Vũ Nho cho rằng đoạn giấc mơ là bình thường và nhạt nhẽo. Nguyễn Du cắt bỏ là cao tay! (tr. 150 – 151).

Tôi không tán thành ý kiến cực đoan và phiến diện của ông Đinh Bá Anh, khi cho rằng Kim Trọng mới là nhân vật vĩ đại của Nguyễn Du trong TK, nhưng cũng chưa thể tán thành đánh giá của tác giả Vũ Nho về đoạn giấc mơ.

Về nhân vật Thúy Vân, tuy tính cách và số phận không phức tạp, đa diện như nhân vật Thúy Kiều, nhưng xưa nay vẫn có những cách hiểu, cách phân tích khác nhau. Trong đối sánh của mình, Vũ Nho góp một cách nhìn nhận đánh giá mới, không giống ai, khá tinh tế và chân thực: “Thúy Vân của Nguyễn Du khác xa Thúy Vân của Thanh Tâm Tài Nhân. Khác biệt lớn nhất là Thúy Vân của Nguyễn Du nói ít hơn, đúng với tinh thần nhà thơ mô tả: “Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang”… Vũ Nho đồng tình với nhận xét của Kim Thánh Thán và cho rằng “Nguyễn Du đã bỏ hết đối thoại 2 chị em, cả chi tiết má đỏ bừng… nhưng ta vẫn thấy một nàng Vân rất có cảm tình với Kim Trọng và có “mối tình xa” với chàng” (tr. 250).

Phần 4: So sánh một số vấn đề, trong đó có 3 vấn đề quan trọng và nổi bật được nhà khảo cứu đề cập tới: vấn đề tiền bạc; vấn đề số phận người phụ nữ và vấn đề triết lý trong “Truyện Kiều”.

Đóng góp mới của bài so sánh vấn đề tiền bạc trong TK là ở chỗ:

- Một là, tác giả đã thống kê, đối sánh, phân tích cụ thể, khoa học, dựa trên các dị bản TK và KVK xưa nay để đi tới một kết luận mở có thể chấp nhận về từ ngữ, khái niệm trong TK. Nguyễn Du đã nhiều lần dùng 2 từ bạc và vàng (nhiều nhất là vàng) để chỉ tiền bạc, không nói cụ thể số lượng bạc hay vàng, chỉ chú ý đến giá trị cao.

- Điều thú vị thứ hai là, tác giả đã bình luận 5 khái quát và bình luận trực tiếp của Nguyễn Du về đồng tiền như những câu tục ngữ, châm ngôn, triết lý đúc kết, chiêm nghiệm từ bản thân và dân gian về tiền bạc.

Về vấn đề số phận người phụ nữ trong Truyện Kiều, so với KVK của Thanh Tâm Tài Nhân, cũng vừa được gợi mở vừa đào sâu thêm những tầng nấc mới.

Vấn đề triết lý trong Truyện Kiều, một trong những vấn đề học thuật phức tạp nhất, gây tranh cãi nhiều nhất xưa nay.

Khiêm tốn, tự lượng sức mình, Vũ Nho đọc kỹ, đọc sâu các công trình nghiên cứu triết học Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo uyên bác của thiền sư Thích Nhất Hạnh (Thả một bè lau), Phạm Công Thiện, Cao Huy Đỉnh, Hoàng Ngọc Hiến: “Nhìn sâu vào triết lý Truyện Kiều”, “Triết lý Phật giáo trong Truyện Kiều”… tâm đắc chia sẻ những phân giải hữu lý hữu tình của các vị về chữ tâm, chữ nghiệp, chữ mệnh, chữ Trời, chữ lòng… 

Tác giả cho rằng “Nguyễn Du đã vô cùng sâu sắc khi viết: Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra… Vì vậy, triết lý sâu sắc nhất là triết lý xuất phát từ tấm lòng nhân đạo cao cả, có gốc từ tấm lòng cao cả” (tr. 311 – 312).

Chúng tôi rất đồng cảm, đồng tình, đồng ý với những khái quát và lý giải sâu sắc đó.

Tiếp theo, nhà khảo cứu phân giải và minh chứng 10 triết lý đời sống của Nguyễn Du đã rút ra có ý nghĩa như là châm ngôn, tục ngữ đời sống không chỉ của người Việt Nam mà hầu như của mọi dân tộc, quốc gia, mọi chế độ.

Theo tôi, phần này là một trong những đoạn viết cẩn trọng, thể hiện công phu học hỏi, vận dụng; tâm huyết, đóng góp về nhận thức lý luận triết học và phương pháp luận nghiên cứu triết học trong tác phẩm văn học của tác giả.

Phần 5: Phụ lục, chọn lọc 10 bài viết của Vũ Nho trong những năm gần đây về Nguyễn Du và TK, góp phần làm cho nội dung cuốn chuyên khảo thêm phong phú, dầy dặn hơn. Bạn đọc rộng rãi, nhất là các giáo viên dạy Ngữ văn phổ thông các cấp, các em sinh viên, học sinh dạy học Nguyễn Du và TK có thể tham khảo, sẻ chia hay tiếp tục thảo luận, trao đổi, thậm chí phản biện với tác giả.

 Một trong những ấn tượng đẹp mà tôi muốn chia sẻ cùng tác giả và bạn đọc là vấn đề văn phong và giọng điệu.

Theo tôi, Vũ Nho thuộc loại nhà nghiên cứu phê bình văn học viết văn khảo cứu có văn. Nghĩa là lời văn, câu chữ không khô khan, thuần luận lý mà khá dồi dào cảm hứng và hình tượng, hình ảnh, trong khi vẫn giữ được sự mực thước, chặt chẽ, điềm đạm trong quá trình luận chứng.

Tóm lại, cuốn sách đang nói tới đây của PGS.TS. Vũ Nho là một công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa thực tiễn và lý luận đáng ghi nhận trên mặt bằng chung của tình hình và thực trạng nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam hiện nay.

Đường Văn

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.