Một công trình nghiên cứu so sánh văn học có giá trị

Đọc “Từ Kim Vân Kiều đến Truyện Kiều - so sánh và bình luận” của PGS.TS Vũ Nho, NXB Hội Nhà văn, 2016.

Có thể nói, dưới góc độ và phương pháp so sánh văn học hiện đại nhằm một mục tiêu duy nhất, chứng minh cho một tiền đề xác định từ lâu, nhưng chưa được luận chứng cụ thể, chi tiết và đầy đủ thì công trình của Vũ Nho, ở Việt Nam, cho đến nay, có lẽ là công trình khảo cứu so sánh khoa học đầu tiên về Truyện Kiều đạt kết quả khả quan, đáng ghi nhận và tin cậy.

Trước hết, về kết cấu, bố cục công trình: vừa chặt chẽ, mạch lạc, các phần, mục hô ứng, nối tiếp, liên hệ, bổ sung cho nhau cùng nhằm giải quyết một yêu cầu chung như một định đề, một tiên đề đã có sẵn, nhưng hãy còn khá mơ hồ, chưa tường minh bằng chứng lý. Tuy vậy, mỗi phần, mục lại có tính độc lập tương đối, có thể tách ra thành một bài nghiên cứu độc lập (mà thực tế là như vậy). Mô hình chung của mỗi bài trong các phần 2, 3, 4 được cấu trúc như sau:

+ Lời dẫn

+ Đối chiếu trích đoạn văn bản “Kim Vân Kiều” (KVK) của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) và “Truyện Kiều” (TK) của đại thi hào Nguyễn Du.

+ Liệt kê cụ thể từng điểm, từng chỗ, từng chi tiết, từ ngữ, hình ảnh, nhân vật, sự việc… mà Nguyễn Du đã dụng công làm khác, làm mới, đã sáng tạo trong TK so với KVK.

+ Phân giải, bình luận

Một mô hình trình bày như thế là thống nhất, xuyên suốt, mạch lạc, logich, chặt chẽ và hiệu quả. Thống kê sơ bộ, thấy chỉ riêng phần 2: Đối chiếu, so sánh các đoạn (12 bài/mục), tác giả đã phát hiện, đối sánh được tới 111 điều khác biệt về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật mà Nguyễn Du đã làm khác, làm mới, đã sáng tạo so với Thanh Tâm Tài Tử. Nếu tính cả phần 3, phần 4 nữa thì tổng cộng số lượng tìm tòi, phát hiện và phân giải của tác giả đã lên tới hơn 300 điều. Quả thật đây là những con số biết nói, rất đáng ghi nhận công phu, tinh thần say sưa kiếm tìm của nhà nghiên cứu.

Nhưng số lượng mới chỉ là một vấn đề. Quan trọng hơn là chất lượng và hiệu quả của sự tìm kiếm, đối sánh ấy ra sao?

Bìa cuốn “Từ Kim Vân Kiều đến Truyện Kiều” của Vũ Nho.
Bìa cuốn “Từ Kim Vân Kiều đến Truyện Kiều” của Vũ Nho.

Theo chúng tôi, hầu hết những điều, những điểm, những vấn đề mà tác giả soi chiếu, phát hiện để thấy rõ sự khác biệt trong TK so với KVK đều được minh chứng cụ thể bằng ý kiến, câu chữ rõ ràng, thuyết phục. Các biện pháp so sánh văn học được thực hiện một cách cẩn trọng, nghiêm túc, đúng quy trình, khách quan cho nên vừa quen vừa lạ, hấp dẫn và thuyết phục.

Chẳng hạn đoạn Từ Hải từ biệt Thúy Kiều. Đó là thêm. Còn bớt?

Đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều từ 8 trang văn xuôi trong KVK, chỉ còn 28 câu, rồi 8 câu tuyệt tác trong TK với 17 sự điều chỉnh, thêm/bớt của Nguyễn Du đã làm cho buổi Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều trở nên đặc biệt độc đáo. Có điều, tôi thấy hơi lạ là không thấy tác giả đối sánh đoạn đoàn viên Kiều – Kim tái hồi có hậu. Hay là trong đoạn này, so với Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du không có sáng tạo gì thật mới mẻ, đáng để so sánh?

Phần 3, tác giả so sánh 11 nhân vật, cả nhân vật trung tâm (Thúy Kiều) cả nhân vật chính (Từ Hải, Thúc Sinh, Kim Trọng…), cả nhân vật phụ (Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến, Thúy Vân), thậm chí nhân vật rất phụ như Kế thị (Hoạn Bà, mẹ Hoạn Thư); nhưng lại rất tiếc, không thấy tác giả đả động đến nhân vật Lưu Đạm Tiên?

Còn lại, với hầu hết các nhân vật khác, ở những mức độ khác nhau đều được nhà nghiên cứu soi chiếu, đối sánh, phân giải khá kỹ lưỡng. Người khảo cứu hậu sinh ở đây đã không ngần ngại sử dụng, trích dẫn kết quả nghiên cứu của bậc tiền bối nổi tiếng từ lâu. Tuy vậy, nhà nghiên cứu phê bình văn học hôm nay chỉ trong một đoạn Kiều - Từ gặp gỡ, đã chỉ ra được 5 điểm khác nhau mới mà Hoài Thanh năm nào chưa để ý (tr. 124 – 127).

So sánh nhân vật Thúy Kiều của Nguyễn Du với KVK của Thanh Tâm Tài Nhân là bài khảo cứu so sánh triệt để, kỹ lưỡng, công phu và tương đối toàn diện. Phân giải, đánh giá những chi tiết Nguyễn Du thêm vào cảnh Kiều quyết chịu gia hình mà không chịu về lầu xanh, không một lần xưng con, gọi má với mụ Tú Bà, đã thể hiện bản lĩnh và tính cách cứng cỏi của Thúy Kiều, điều không thấy ở KVK. Đó là đóng góp của nhà nghiên cứu. Kết luận của Vũ Nho, theo tôi, là thỏa đáng, thuyết phục.

Nhưng ở đây, tôi muốn có đôi điều trao đổi cùng tác giả.

Thứ nhất, như vậy, Kiều của Nguyễn Du, trong mắt nhà khảo cứu so sánh hôm nay, đã hoàn toàn mười phân vẹn mười, không hề có chút tì vết, hạn chế trong tính cách, sai lầm trong hành động, ứng xử? Có thể là vậy! Nguyễn Du quá yêu nàng mà khéo “che giấu”, nương nhẹ đi, nhưng vẫn lộ ra như nghiên cứu Phan Ngọc và Trần Đình Sử… từng chỉ ra. Ấy là nhẹ dạ, nông nổi, cầu an, dễ tin người, hám danh... Giá như ông đối sánh rõ thêm so với KVK xem Nguyễn Du đã làm mới hơn Thanh Tâm Tài Nhân ở những điểm nào thì còn thú vị hơn biết mấy!?

Thứ hai, về chi tiết Nguyễn Du cắt bỏ chi tiết giấc mơ của Thúy Kiều trong KVK, mong Kim Trọng hiện ra cứu mình, nhân đối thoại với Đinh Bá Anh. Vũ Nho cho rằng đoạn giấc mơ là bình thường và nhạt nhẽo. Nguyễn Du cắt bỏ là cao tay! (tr. 150 – 151).

Tôi không tán thành ý kiến cực đoan và phiến diện của ông Đinh Bá Anh, khi cho rằng Kim Trọng mới là nhân vật vĩ đại của Nguyễn Du trong TK, nhưng cũng chưa thể tán thành đánh giá của tác giả Vũ Nho về đoạn giấc mơ.

Về nhân vật Thúy Vân, tuy tính cách và số phận không phức tạp, đa diện như nhân vật Thúy Kiều, nhưng xưa nay vẫn có những cách hiểu, cách phân tích khác nhau. Trong đối sánh của mình, Vũ Nho góp một cách nhìn nhận đánh giá mới, không giống ai, khá tinh tế và chân thực: “Thúy Vân của Nguyễn Du khác xa Thúy Vân của Thanh Tâm Tài Nhân. Khác biệt lớn nhất là Thúy Vân của Nguyễn Du nói ít hơn, đúng với tinh thần nhà thơ mô tả: “Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang”… Vũ Nho đồng tình với nhận xét của Kim Thánh Thán và cho rằng “Nguyễn Du đã bỏ hết đối thoại 2 chị em, cả chi tiết má đỏ bừng… nhưng ta vẫn thấy một nàng Vân rất có cảm tình với Kim Trọng và có “mối tình xa” với chàng” (tr. 250).

Phần 4: So sánh một số vấn đề, trong đó có 3 vấn đề quan trọng và nổi bật được nhà khảo cứu đề cập tới: vấn đề tiền bạc; vấn đề số phận người phụ nữ và vấn đề triết lý trong “Truyện Kiều”.

Đóng góp mới của bài so sánh vấn đề tiền bạc trong TK là ở chỗ:

- Một là, tác giả đã thống kê, đối sánh, phân tích cụ thể, khoa học, dựa trên các dị bản TK và KVK xưa nay để đi tới một kết luận mở có thể chấp nhận về từ ngữ, khái niệm trong TK. Nguyễn Du đã nhiều lần dùng 2 từ bạc và vàng (nhiều nhất là vàng) để chỉ tiền bạc, không nói cụ thể số lượng bạc hay vàng, chỉ chú ý đến giá trị cao.

- Điều thú vị thứ hai là, tác giả đã bình luận 5 khái quát và bình luận trực tiếp của Nguyễn Du về đồng tiền như những câu tục ngữ, châm ngôn, triết lý đúc kết, chiêm nghiệm từ bản thân và dân gian về tiền bạc.

Về vấn đề số phận người phụ nữ trong Truyện Kiều, so với KVK của Thanh Tâm Tài Nhân, cũng vừa được gợi mở vừa đào sâu thêm những tầng nấc mới.

Vấn đề triết lý trong Truyện Kiều, một trong những vấn đề học thuật phức tạp nhất, gây tranh cãi nhiều nhất xưa nay.

Khiêm tốn, tự lượng sức mình, Vũ Nho đọc kỹ, đọc sâu các công trình nghiên cứu triết học Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo uyên bác của thiền sư Thích Nhất Hạnh (Thả một bè lau), Phạm Công Thiện, Cao Huy Đỉnh, Hoàng Ngọc Hiến: “Nhìn sâu vào triết lý Truyện Kiều”, “Triết lý Phật giáo trong Truyện Kiều”… tâm đắc chia sẻ những phân giải hữu lý hữu tình của các vị về chữ tâm, chữ nghiệp, chữ mệnh, chữ Trời, chữ lòng… 

Tác giả cho rằng “Nguyễn Du đã vô cùng sâu sắc khi viết: Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra… Vì vậy, triết lý sâu sắc nhất là triết lý xuất phát từ tấm lòng nhân đạo cao cả, có gốc từ tấm lòng cao cả” (tr. 311 – 312).

Chúng tôi rất đồng cảm, đồng tình, đồng ý với những khái quát và lý giải sâu sắc đó.

Tiếp theo, nhà khảo cứu phân giải và minh chứng 10 triết lý đời sống của Nguyễn Du đã rút ra có ý nghĩa như là châm ngôn, tục ngữ đời sống không chỉ của người Việt Nam mà hầu như của mọi dân tộc, quốc gia, mọi chế độ.

Theo tôi, phần này là một trong những đoạn viết cẩn trọng, thể hiện công phu học hỏi, vận dụng; tâm huyết, đóng góp về nhận thức lý luận triết học và phương pháp luận nghiên cứu triết học trong tác phẩm văn học của tác giả.

Phần 5: Phụ lục, chọn lọc 10 bài viết của Vũ Nho trong những năm gần đây về Nguyễn Du và TK, góp phần làm cho nội dung cuốn chuyên khảo thêm phong phú, dầy dặn hơn. Bạn đọc rộng rãi, nhất là các giáo viên dạy Ngữ văn phổ thông các cấp, các em sinh viên, học sinh dạy học Nguyễn Du và TK có thể tham khảo, sẻ chia hay tiếp tục thảo luận, trao đổi, thậm chí phản biện với tác giả.

 Một trong những ấn tượng đẹp mà tôi muốn chia sẻ cùng tác giả và bạn đọc là vấn đề văn phong và giọng điệu.

Theo tôi, Vũ Nho thuộc loại nhà nghiên cứu phê bình văn học viết văn khảo cứu có văn. Nghĩa là lời văn, câu chữ không khô khan, thuần luận lý mà khá dồi dào cảm hứng và hình tượng, hình ảnh, trong khi vẫn giữ được sự mực thước, chặt chẽ, điềm đạm trong quá trình luận chứng.

Tóm lại, cuốn sách đang nói tới đây của PGS.TS. Vũ Nho là một công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa thực tiễn và lý luận đáng ghi nhận trên mặt bằng chung của tình hình và thực trạng nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam hiện nay.

Đường Văn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).