Mong manh mà mãnh liệt như... cỏ

Có thể nói, dù nhỏ nhoi và rất mong manh nhưng trong thi ca phương Đông hàng ngàn năm nay, cỏ đã được các thi sĩ vô cùng ưu ái. Như ta đều biết, cỏ lên xanh tốt nhất là vào mùa xuân nên những câu thơ ca ngợi vẻ đẹp của cỏ đều gắn với thời điểm này: "Xuân du phương thảo địa/ Hạ thưởng lục hà trì" (Mùa xuân dạo cỏ xanh tươi/ Hạ về vui mát ở nơi ao hồ - "Bốn mùa viễn du" - Thôi Hiệu).

Trong lịch sử thi ca, có những hình ảnh - biểu tượng luôn tạo nên được niềm cảm hứng sáng tạo bất tận cho mọi thế hệ thi sĩ. Dĩ nhiên, ở từng thời kỳ văn học sử khác nhau có thể có những cách diễn đạt hoặc hệ thẩm mỹ khác nhau với cùng một chất liệu, nhưng sức sống của chất liệu ấy, sự không lỗi mốt của chất liệu ấy là một điều có thật, không phải bàn cãi. Trong lịch sử thi ca của người Việt, cỏ chính là một hình ảnh - biểu tượng mang ý nghĩa và sức sống như vậy.

1.Có thể nói, dù nhỏ nhoi và rất mong manh nhưng trong thi ca phương Đông hàng ngàn năm nay, cỏ đã được các thi sĩ vô cùng ưu ái. Như ta đều biết, cỏ lên xanh tốt nhất là vào mùa xuân nên những câu thơ ca ngợi vẻ đẹp của cỏ đều gắn với thời điểm này: "Xuân du phương thảo địa/ Hạ thưởng lục hà trì" (Mùa xuân dạo cỏ xanh tươi/ Hạ về vui mát ở nơi ao hồ - "Bốn mùa viễn du" - Thôi Hiệu).

Cũng chính thi sĩ Thôi Hiệu còn có câu thơ đặc sắc nữa về cỏ trong thi phẩm kinh động đương thời cũng như hậu thế mang tên "Hoàng Hạc lâu": "Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ/ Phương thảo thê thê Anh Vũ châu" (Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng/ Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời - Khương Hữu Dụng dịch). Trong câu thơ của "Hoàng Hạc lâu", cỏ không chỉ là đại diện vẻ đẹp của mùa xuân mà còn đại diện cho cái đẹp trường tồn của tự nhiên, đối lập với cái hữu hạn nhỏ bé của kiếp người.

Một thi sĩ đời Đường nức tiếng khác là Lý Bạch cũng ca ngợi vẻ đẹp của cỏ, nhưng lại đặt trong cái tình nhớ thương hao khuyết của người phụ nữ ngóng chồng. Vẻ đẹp của cỏ xanh lúc này như trêu ngươi, cứa vào nỗi đau của người thiếu phụ: "Cỏ Yên như sợi tơ xanh/ Dâu Tần càng biếc rủ cành sum suê/ Khi chàng tưởng nhớ ngày về/ Chính là khi thiếp tái tê cõi lòng/ Gió xuân ai biết cho cùng/ Cớ sao len lỏi vào trong màn là" (Xuân tứ).

Ở Việt Nam, câu thơ ca ngợi cỏ xuân nổi tiếng đầu tiên phải kể đến là câu trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, đoạn tả chị em Thúy Kiều đi chơi tiết thanh minh: "Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa". Cũng trong đoạn tả tiết thanh minh này, còn có bốn lần tả cỏ khác nữa của đại thi hào Nguyễn Du, mỗi lần một biểu hiện khác nhau. Hai lần tả chung chung chỉ dừng lại ở ấn tượng màu sắc: "Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh" và "Hài văn lần bước dặm xanh".

Cỏ trong phim Việt.
Cỏ trong phim Việt.

Còn hai lần nữa gắn liền với tâm trạng con người. Một là khi tả Thúy Kiều thắp hương trước mộ Đạm Tiên: "Một vùng cỏ áy bóng tà/ Gió hiu hiu thổi một và bông lau". Cũng là cỏ mùa xuân nhưng "cỏ áy" lại là cỏ úa vàng, như một ám thị về cuộc đời buồn thương của một trang tài sắc. Lần tả cỏ cuối cùng nữa trong buổi thanh minh là khi Kim Trọng quay lại nơi gặp gỡ hai chị em Thúy Kiều, giờ đây chỉ còn thấy: "Một vùng cỏ mọc xanh rì/ Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu".

Cỏ lúc này dường như vô tình và phũ phàng với con người, không còn hiện lên chút gì bóng dáng của giai nhân nữa. Trong các phần sau của "Truyện Kiều", Nguyễn Du còn vài lần nhắc đến nữa. Khi thì dùng cỏ như một ẩn dụ của thân phận: "Hạt mưa sá nghĩ phận hèn/ Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân".

Lúc thì dùng cỏ để tả tâm trạng hoang mang vô vọng của Kiều trước lầu Ngưng Bích: "Buồn trông nội cỏ dầu dầu/ Chân mây mặt đất một màu xanh xanh". Và một lần nữa dùng cỏ để tả sự hoang tàn khi chàng Kim trở lại vườn Thúy tìm người xưa: "Xập xè én liệng lầu không/ Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày".

Cũng trong thi ca thời trung đại của Việt Nam, cỏ còn được gắn với một số ý nghĩa biểu trưng khác. Trong thơ Nguyễn Trãi, cỏ được coi là tiểu nhân, đối lập với hoa là quân tử: "Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn/ Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi". Cái ý tiểu nhân gắn với cỏ cũng từng được nói đến trong Đạo đức kinh của Lão Tử: "Đức của quân tử như gió.

Đức của tiểu nhân như cỏ. Gió thổi, cỏ rạp xuống". Còn trong thơ Ôn Như Nguyễn Gia Thiều, cỏ gắn với sự giã biệt số kiếp một con người, là sự đặt dấu chấm hết cho một cuộc đời: "Trăm năm còn có gì đâu/ Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì". Phạm Thái trước cái chết của Trương Quỳnh Như cũng có một cảm xúc tương tự: "Nay qua nấm cỏ xanh tưởng người mệnh bạc, sụt sùi hai hàng tình lệ, giãi bày một bức khốc văn, đốt xuống tuyền đài tỏ cùng nương tử" (Văn tế Trương Quỳnh Như).

Chỉ có một trường hợp hiếm hoi trong văn chương trung đại người Việt, cỏ gắn với ý chí hiên ngang bất khuất, cứng cỏi phi thường. Đó là mấy câu trong "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo, thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn, quyết tâm chống giặc đến hơi thở cuối cùng: "Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng" (bản dịch Bùi Kỷ).

2. Sang thời kỳ hiện đại, cỏ vẫn xuất hiện rất nhiều trong thi ca Việt và được mở rộng các chiều kích, cung bậc cảm xúc. Cũng nói về cái chết song cách diễn đạt của Nguyễn Duy trong Đò Lèn vẫn gây được cảm giác mới mẻ nhờ hiệu ứng tương phản bất ngờ: "Khi tôi biết thương bà thì đã muộn/ Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi". Những câu thơ về cỏ trong thi ca kháng chiến mang những dấu ấn rất riêng. Cỏ trong thơ Thanh Thảo đầy ắp bầu nhiệt huyết tràn trề mê say và dâng hiến của tuổi trẻ: "Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/(Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)/Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc/ Cỏ sắc mà, ấm quá phải không em?".

Cỏ trong thơ Hoàng Nhuận Cầm cũng là dâng hiến, nhưng là trong sự  khắc nghiệt và dữ dội của chiến tranh, khi sự sống và cái chết luôn ở một ranh giới cận kề: "Đêm trong suốt áp ngực vào phương ấy/ Gặp lại mùi cỏ cháy suốt thời trai" (Phương ấy). Chiến tranh đi qua, bao người con đất Việt mãi nằm lại trong lòng đất quê hương. Trên mộ các anh cỏ phủ xanh, và những nấm cỏ ấy dường như cũng mang đầy linh hồn, cỏ hàng ngày xạc xào đu đưa như ru các anh yên nghỉ: "Cỏ non thành cổ, một màu xanh non tơ/ Bình minh thành cổ/ cỏ mềm theo gió đung đưa (...) Cỏ xanh non tơ cỏ xanh non tơ xin chớ vô tình/ Với người hy sinh, trên mảnh đất quê mình" (Cỏ non thành cổ - Nhạc và lời: Tân Huyền).

Trong một góc nhìn khác, nhà thơ Hồng Thanh Quang lại thấy cỏ chính là linh hồn của người lính, vì thương mẹ nên đã trỗi dậy trên nấm mồ xuân: "Anh thương mẹ quá đau phiền/ Anh thương tay mẹ cóng trên thân mình/ Nằm sâu dưới đất sao đành/ Âm thầm anh nhú lên thành cỏ xuân" (Cỏ xuân).

3. Nhiều thi sĩ dùng cỏ để thể hiện các cảm xúc của tình yêu lứa đôi. Nguyễn Bính trước 1945 đã có bài lục bát chỉ gồm hai câu tuyệt hay về cỏ: "Hồn anh như hoa cỏ may/ Một chiều cả gió bám đầy áo em". Từ hoa cỏ may của Nguyễn Bính đến Hoa cỏ may của Xuân Quỳnh lại là một đổi thay lớn về tư duy hình tượng và cảm quan nghệ thuật: "Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may/ Áo em sơ ý cỏ găm dày/ Lời yêu mỏng mảnh như màu khói/ Ai biết lòng anh có đổi thay?".

Nếu như hoa cỏ may trong thơ Nguyễn Bính là sự đa tình, dễ rung động rung cảm của chàng lãng tử thì hoa cỏ may trong thơ Xuân Quỳnh lại mang đầy dự cảm âu lo về tình yêu nhanh đến nhanh đi, về việc chưa thể tin vào một ái tình vĩnh viễn.

Cái sự khó nắm bắt và đầy che giấu ấy sau này cũng gặp lại trong thơ Hoàng Nhuận Cầm, cũng với một ý thơ về cỏ may: "Trời xanh màu tự thú/ Tóc em thờ ơ bay/ Ngày em hai mươi tuổi/ Anh ngửa đôi bàn tay/ Tình yêu hương cỏ may/ Ngủ âm thầm trong đất/ Lòng anh cũng vậy thôi/ Hơn một lần đánh mất" (Mây rất thờ ơ).

Vẫn trong tình yêu, cỏ còn được dùng để biểu tượng cho những gì khá phức tạp, bí ẩn, chưa được chia sẻ và thấu hiểu, không đoán định được tương lai: "Đời đã muộn, em không thể nữa/ Thêm một lần thử trái tim đau/ Anh - lối cỏ chưa từng ai đến/ Đi bước này không rõ bước sau" (Lời cuối - Hồng Thanh Quang)

Khi lứa đôi hạnh phúc thì cỏ dường như cũng nồng nàn, run rẩy, phập phồng và hồi hộp theo nhịp đập trái tim người: "Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh/ Tôi đợi người yêu đến tự tình" (Mùa xuân xanh - Nguyễn Bính). Cỏ khi ấy có thể  cũng chính là vẻ đẹp của người mình yêu: "Cỏ mềm thơm mãi dấu chân em" (Đất nước - Nguyễn Đình Thi).

Còn khi tình yêu dang dở thì cỏ ngay lập tức cũng trở nên buồn thương héo hắt. Lúc này, không còn vẻ đẹp của cỏ mùa xuân nữa mà là nỗi buồn mùa thu mênh mang: "Thu mà, cỏ ở triền đê/ Nửa xanh xao tím, nửa tê tái vàng" (Không đề mùa thu - Hồng Thanh Quang).

4. Cuối cùng, nhắc đến cỏ, không thể quên những kỷ niệm tuổi thơ: "Chăn trâu cắt cỏ trên đồng/ Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều" (Chăn trâu đốt lửa - Đồng Đức Bốn), "Chút hoa cỏ lẫn vào trong kỷ niệm/ Chiều mẹ về nón trắng vẫy nghiêng nghiêng" (Ngày xa - Minh Việt).

Cho đến những năm gần đây, cỏ vẫn tiếp tục xuất hiện trong thơ đương đại với những cách biểu hiện mới. Tạ Anh Thư đã viết về cỏ theo một cách rất riêng. Với chị, cỏ là sự dâng hiến nguyên khôi tinh khiết đến tận cùng và không điều kiện: "Sao mọc rồi lại lặn/ Sương đọng rồi lại tan/ Em bên kia thung lũng/ Cách chàng vạn bước chân/ Nhưng nếu chàng yên lặng/ Sẽ thấy em thật gần/ Tình yêu của ngọn cỏ/ Chẳng đòi hỏi thề nguyền/ Chỉ cần chàng cúi xuống/ Một buổi chiều nghiêng nghiêng" (Chàng).

Tìm hiểu về cỏ trong thi ca Việt theo một dòng chảy văn học sử, chúng ta thấy được sự kỳ diệu, phong phú của vẻ đẹp ngôn từ, vẻ đẹp văn chương, thấy được những sáng tạo và đổi mới không ngừng nghỉ của người nghệ sĩ. Họ luôn có những phát hiện, tìm kiếm hoặc diễn đạt nhằm khơi gợi nên nhiều chiều kích mới mẻ cho một hình tượng nghệ thuật quen thuộc mà không bao giờ cũ. Và tôi tin rằng ngọn cỏ đơn sơ ấy sẽ vẫn còn đủ sức vẫy gọi sáng tạo của các thế hệ thi sĩ, lay động trái tim của nhiều thế hệ độc giả mai sau.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).