"Mảnh đất thử thách" với cây bút nữ dân tộc thiểu số

Các tác giả nữ người dân tộc thiểu số viết về chiến tranh và hậu chiến nhằm tri ân quá khứ, bởi đó là trách nhiệm với những người đã hy sinh vì Tổ quốc. Họ viết về những con người trong chiến tranh với những số phận cụ thể, đời thường, không phải chỉ anh hùng với ý chí quật cường, dũng cảm mà ở đó còn có những đấu tranh giằng xé, những mất mát và cả những khát vọng hóa giải hận thù sau cuộc chiến.

Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc là nguồn cảm hứng lớn cho sáng tác văn học nghệ thuật. Đối với văn học dân tộc thiểu số, những tác phẩm đã có tuy chưa thực sự tạo thành một dòng chảy mãnh liệt nhưng cũng đã có những dấu ấn quan trọng về cả thơ, truyện ngắn, trường ca, tiểu thuyết...

Các tác giả nữ người dân tộc thiểu số viết về chiến tranh và hậu chiến nhằm tri ân quá khứ, bởi đó là trách nhiệm với những người đã hy sinh vì Tổ quốc. Họ viết về những con người trong chiến tranh với những số phận cụ thể, đời thường, không phải chỉ anh hùng với ý chí quật cường, dũng cảm mà ở đó còn có những đấu tranh giằng xé, những mất mát và cả những khát vọng hóa giải hận thù sau cuộc chiến.

Phóng viên Văn nghệ công an có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Đỗ Thị Thu Huyền - Viện Văn học về nội dung này.

image001.jpg -0
Tiến sĩ Đỗ Thị Thu Huyền (bên trái) và tác giả.

- Đội ngũ những cây bút nữ dân tộc thiểu số viết về đề tài hậu chiến hiện nay như thế nào, thưa tiến sĩ?

+ Đề tài chiến tranh đã được phản ánh trong văn học nhiều thế kỷ, và khi đất nước đã hòa bình nhưng những xúc cảm, dư âm mà nó mang lại luôn mới mẻ, thôi thúc người cầm bút. Chúng ta đã có riêng một giai đoạn có thể tạm gọi là văn học chiến tranh (thời kỳ 1945-1975) và dư âm của nó còn ở lại chừng hơn 20 năm cuối thế kỷ XX. Sang giai đoạn hiện nay, những năm đầu của thế kỷ XXI, khi nhiều đề tài khác hấp dẫn người cầm bút, đặc biệt là những người sáng tác trẻ thì một thực trạng đáng báo động là những sáng tác hay về mảng đề tài này còn nhiều thiếu hụt.

Văn học dân tộc thiểu số hiện nay đã được quan tâm hơn, được dày công nghiên cứu, tuy nhiên mảng đề tài về chiến tranh nói chung và vấn đề hậu chiến nói riêng vẫn còn nhiều khoảng trống, mặc dù thực sự trong kho tàng ấy có nhiều tác phẩm hay, độc đáo. Thế hệ đầu tiên như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại (dân tộc Tày), Đinh Sơn (dân tộc Mường), Bàn Tài Đoàn (dân tộc Dao)... xứng đáng được gọi là nhà thơ cách mạng tiêu biểu cho thơ ca dân tộc thiểu số thế kỉ XX.

Ở thời điểm hiện tại, có liền kề 3 thế hệ nhà văn, nhà thơ cùng sáng tác, cùng có nhiều trang viết hay về chiến tranh, nhưng thành công thực sự được ghi nhận ở những tác giả trưởng thành từ trong cuộc chiến như Triều Ân, Y Phương, Y Điêng, Ma Đình Thu, Mã A Lềnh, Triệu Kim Văn và sau này là những tác giả có những khám phá mới từ chất liệu hiện thực bề bộn. Về văn xuôi có các gương mặt như Kim Nhất, HLinh Niê, Vi Thị Kim Bình, Hà Thị Cẩm Anh, Lý Lan, Bùi Thị Như Lan, Hoàng Thị Cành. Về thơ có các cây bút như Nông Thị Ngọc Hòa, Hoàng Kim Dung, Bùi Thị Tuyết Mai, Chu Thùy Liên, Đinh Thị Mai Lan, Bế Phương Mai, Nông Thị Tô Hường, Hoàng Thanh Hương, Vi Thùy Linh, Đàm Thị Hải Yến, Phùng Thị Hải Yến...

- Những vấn đề nào được các tác giả người dân tộc thiểu số tập trung khai thác? Đề tài hậu chiến có phải là một mảnh đất đầy thử thách với họ?

+ Nếu trước 1975, cảm hứng sử thi - ngợi ca Tổ quốc, nhân dân là chủ đạo trong văn học của các tác giả người Kinh, thì sau năm 1975 văn học bước sang một thời kỳ mới - thời kỳ thức tỉnh của ý thức cá nhân. Văn học dân tộc thiểu số tuy chuyển động chậm hơn nhưng cũng bắt đầu có những đổi thay. Đề tài được mở rộng, từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ những câu chuyện anh hùng đã hướng đến cuộc sống quen thuộc hằng ngày, từ vận mệnh chung của dân tộc đến số phận cá nhân và cả những tổn thất đau thương do chiến tranh để lại. Văn học dân tộc thiểu số thời kì này đã thâm nhập sâu hơn những khía cạnh bộn bề, phức tạp của cuộc sống và thế giới tinh thần của con người, đặc biệt là những vấn đề về con người cá nhân; phản ánh cuộc sống không chỉ là mặt nổi mà còn ở những mặt khuất, ở giới hạn giữa cái “không thể” và “có thể”.

Cái đòi hỏi cấp thiết là đưa văn học trở về với những gì chân thực của cuộc sống, kể cả đó là những đau khổ, bi kịch được các nhà thơ người Kinh nói nhiều trong các sáng tác của mình - nhất là sau đổi mới. Thu Bồn thì “ta là đất thôi xin đừng nặn ta thành những tượng thần”. Khi cuộc sống khác, một hiện thực mới mở ra, văn học nghệ thuật cần hướng đến một đối tượng phản ánh mới, đáp ứng thị hiếu của công chúng mới. Hòa mình vào hiện thực mới, không có nghĩa là từ bỏ hoàn toàn những đề tài đã cũ. Họ mượn chiến tranh để nói những vấn đề phía sau mang đến những diễn ngôn về nỗi đau, về quyền sống và hạnh phúc con người. Trong văn học dân tộc thiểu số, cái phản ánh và cảm hứng ngợi ca dường như ở lại lâu hơn, tuy cũng đã xuất hiện nhu cầu nhận thức tối đa hiện thực của cả bên ta và đối phương một cách toàn vẹn, đầy đủ hơn.

- Theo tiến sĩ, điểm giống và khác nhau như thế nào giữa những cây bút nữ dân tộc Kinh và những cây bút dân tộc thiểu số cùng đề tài này?

+ Có một chiến tranh mang gương mặt phụ nữ từ những tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà, Dạ Ngân... tái hiện sự khốc liệt của cuộc chiến qua cách thể hiện cảm xúc. Còn phụ nữ trong tác phẩm của các cây bút dân tộc thiểu số lại có cách thể hiện khác. “Chim Noộc Phầy” bắt đầu câu chuyện bằng một nỗi buồn (như cách vào đề quen thuộc của văn xuôi Bùi Thị Như Lan). Người vợ dù nhận tin chồng hi sinh nhưng vẫn nuôi niềm tin anh sẽ trở về nên ngày đêm mong ngóng. Người chồng đi bộ đội khi nghe gia đình báo tin vợ có thai thì nghĩ cô ăn ở hai lòng, dù bị thương cũng không muốn gia đình biết.

Câu chuyện tuy có những tiểu tiết chưa thực sự thuyết phục nhưng cách viết cuốn hút người đọc bởi những so sánh rất thú vị. Ở đó cho thấy lối viết đầy say mê cảm tính và chính sự không tỉnh táo trong giải quyết tình huống truyện ấy lại mang đến một ngầm ẩn phía sau. Phải chăng, việc không đẩy lên tận cùng để truy nguyên cơn cớ vì sao người chồng một mực không báo tin về gia đình là một cách nhà văn “giải vây”, “mềm hóa”, “bào chữa” cho một vài tình huống vốn dĩ không còn xa lạ với người lính khi đi chiến trận...

Tuy thế, dừng lại phân tích sâu hơn tình huống truyện của “Chim Noộc Phầy” sẽ thấy có một vài điểm đáng suy ngẫm. Ở thông điệp truyền tải, truyện không chỉ nhấn vào sự bao dung của người phụ nữ đến mức oan ức cũng chẳng có ý định tìm lại công bằng cho bản thân. Người phụ nữ ấy được xây dựng tạo một cảm giác chân thực, từ việc có thai với chồng rồi chịu sự ghẻ lạnh của nhà chồng. Thái độ sống đó không đơn giản là chịu đựng, nhẫn nhịn như cách mà con người thành phố hiện đại có thể không chấp nhận. Theo chúng tôi, đó đúng hơn là một sự lựa chọn mang tính văn hóa đầy hồn hậu của những con người đã bao đời gắn bó sâu nặng với thiên nhiên, hòa mình vào cái nhịp điệu trầm lặng, mênh mông và bao dung của núi rừng.

- Đội ngũ các cây bút nữ dân tộc thiểu số đã tạo ra một diện mạo riêng. Vậy, diện mạo này có gì khác so với đội ngũ nam dân tộc thiểu số cùng viết về hậu chiến?

+ Thế hệ của những tác giả như Nông Quốc Chấn đã khẳng định sứ mệnh cao cả của những người con Việt Bắc với đất nước: “Chúng tôi người Việt Bắc/ Không một lúc nào quên/ Giành Nam Bắc nối liền/ Giành lấy ngày thống nhất”. Sự nhận thức về số phận con người, dân tộc:

Các anh chị: Tày, Nùng, Kinh,
                                                Mèo, Mán…
Tạm xếp nương chàm, khung dệt,
                                                quả còn
Tạm biệt nhà sàn về ngủ lán
Giữ Đèo Giàng là giữ bản thôn.

                         ("Người thanh niên giữ Đèo Giàng" - Nông Minh Châu)

- Từ đề tài hậu chiến nói riêng và các cây bút nữ dân tộc thiểu số đã thể hiện ít nhiều có những dấu ấn thành công. Vậy, theo Tiến sĩ Đỗ Thị Thu Huyền, liệu có một dòng chảy về đề tài chiến tranh và hậu chiến trong văn học dân tộc thiểu số hay không?

+ Vấn đề không còn là ở đề tài lớn, đề tài nhỏ mà là cách nhìn, cách xử lý của người sáng tác. Những tác giả nữ như Hà Thị Cẩm Anh, Đoàn Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan, Nông Thị Ngọc Hòa... không chỉ phản ánh chiến tranh với sự bừng bừng khí thế mà đã đào sâu vào hiện thực, nhận thức và tái hiện cuộc chiến ở nhiều mặt, trong đó nhấn mạnh đến những góc còn khuất lấp - đó là số phận của những người lính, người mẹ, người vợ và cả những đứa con đang chịu nhiều đau khổ khi đất nước đã hòa bình. Có thể thấy, đồng cảm cũng là một cách tri ân đối với những con người, những số phận và ở điều này, những nhà văn nữ dân tộc thiểu số đã và sẽ tìm được sự sẻ chia của hàng triệu tấm lòng.

- Xin trân trọng cảm ơn tiến sĩ Đỗ Thị Thu Huyền! 

Vân Khánh

Các tin khác

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Gặp họa sĩ Nguyễn Trường Linh tại xưởng vẽ ở phố Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội, tôi bất ngờ khi thấy anh thẫn thờ ngồi trước tác phẩm "Thương nhớ đồng quê". Tôi lặng lẽ ngồi kế bên ngắm hình những tàu lá chuối bị rách tả tơi vì mưa gió. Những viền vàng trên cây lá gợi nỗi buồn tàn úa man mác.

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà vào Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm với tôi. Hôm đấy, chúng tôi hẹn nhau ra Hà Nội trong một sáng cuối đông. Chuyến đi ngắn ngày nhưng đầy kỉ niệm. Buổi tối, chúng tôi lang thang cùng nhau ở Hà Nội, nói về văn chương và hành trình viết lách của nhau. Hóa ra cô gái đến từ núi đồi Gia Nghĩa (thuộc Đắk-Nông cũ) này khá đa năng với rất nhiều thể loại, và gặt hái nhiều thành công từ rất sớm.

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Theo nhánh tẻ của sông Đa Nhim, dưới chân núi Pnum Trom Ủ (thuộc xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng) có plei (buôn) Krănggọ nổi tiếng với nghề làm gốm mộc của người Churu. Theo lý giải của những người già, “Krăng” là tên ông chủ đất khi xưa, “gọ” chỉ cái nồi đất. Tên buôn làng từ thuở xa xưa đã gắn với nghề gốm.

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Tại World Cup 2026, âm nhạc lần đầu tiên trở thành tiếng nói quan trọng, song hành cùng thể thao như ngôn ngữ chung để truyền tải thông điệp đặc biệt về tinh thần đoàn kết, sự cống hiến không ngừng và tôn vinh nhiều nền văn hóa đa dạng. Điều đó đã được phản ánh qua một bộ sưu tập nhạc nền đồ sộ cùng tham vọng biến sự kiện “thể thao vua” trở thành sân khấu giải trí hàng đầu thế giới.

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực Tương lai” của Việt Nam

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực tương lai” của Việt Nam

Tại Future Menus 2026, đơn vị tổ chức đã giới thiệu bốn xu hướng được dự báo sẽ dẫn đầu thị trường ẩm thực toàn cầu trong thời gian tới. Đó là những xu hướng gợi mở giúp ngành ẩm thực Việt Nam phát triển. Bởi ẩm thực là một kênh hữu hiệu để thu hút du lịch và quảng bá văn hóa Việt ra thế giới.

Chinh phục những địa hạt mới

Chinh phục những địa hạt mới

Vừa qua, bộ phim “Ốc mượn hồn” đã có màn ra mắt ấn tượng với khán giả cả nước. Không chỉ mang đến cho khán giả trải nghiệm điện ảnh mới mẻ, bộ phim còn là dấu ấn mới trên hành trình làm nghệ thuật của đạo diễn Đinh Tuấn Vũ, sau 7 năm xa màn ảnh rộng.

Gomshow có những suất diễn định kỳ tại Hà Nội là nỗ lực của cả ê kíp.

Từ vở ballet “Gat” đến câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa

Những chuyển động ballet đương đại hòa cùng hình ảnh chiếc mũ Gat truyền thống của Hàn Quốc trên sân khấu Nhà hát Hồ Gươm trong chương trình “Mùa Hàn Quốc 2026” gợi cho chúng ta, những khán giả Việt Nam, nhiều suy ngẫm. Đó không chỉ là một đêm diễn nghệ thuật mà là một lát cắt cho thấy cách Hàn Quốc đang kể câu chuyện văn hóa của mình với thế giới - bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại, mới mẻ, mang tính toàn cầu.

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

Nhà văn - dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng trong nhiều bài viết và những cuộc đàm luận sâu về chủ đề lạm dụng AI trong viết sáng tạo, ông đã cảnh báo việc lạm dụng AI trong sáng tác là hành vi tự hủy hoại sự sáng tạo của người viết, đồng thời đặt ra vấn đề trách nhiệm của tác giả, biên tập và các thiết chế văn học trước làn sóng “chữ nghĩa AI” đang lan rộng. Nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh cũng có nhiều ý kiến sâu sắc về vấn nạn sáng tạo văn chương lạm dụng AI. Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện ngắn với nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng và nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh về chủ đề này.

LHP Cannes 2026: Vệt vàng son của Cành cọ vàng

LHP Cannes 2026: Vệt vàng son của Cành cọ vàng

Sau một tuần tranh giải căng thẳng, cuối tuần qua, “Fjord” của nhà làm phim Romania Cristian Mungiu đã chính thức trở thành tác phẩm tiếp theo đoạt giải Cành cọ vàng danh giá tại LHP Cannes 2026. Càng đặc biệt hơn khi đây không phải thành công riêng lẻ, mà qua đó cho thấy chuỗi thành tích đặc biệt của đạo diễn này, nữ diễn viên chính Renate Reinsve lẫn nhà phân phối phim NEON.