Luận về sự vô ngôn

Trong cuộc sống, có những khi vai trò của ngôn ngữ lại bị lu mờ; cả lời nói, chữ viết cùng nhiều yếu tố kéo theo nữa thoắt trở nên không còn quan trọng. Bài viết này, do đó, xin được bàn về sự vô ngôn trong cuộc đời...

1.Ngôn ngữ, như ta đã biết, là phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất của loài người. Ngôn ngữ có hai dạng: lời nói xuất hiện trước và chữ viết xuất hiện sau. Nhờ có ngôn ngữ mà xã hội mới phát triển, kinh nghiệm và tri thức của thế hệ trước được truyền lại cho thế hệ sau; nhờ ngôn ngữ mà muôn vàn tác phẩm mới có cơ hội ra đời và lưu lại cho hậu thế.

Thế nhưng trong cuộc sống, có những khi vai trò của ngôn ngữ lại bị lu mờ; cả lời nói, chữ viết cùng nhiều yếu tố kéo theo nữa thoắt trở nên không còn quan trọng. Bài viết này, do đó, xin được bàn về sự vô ngôn trong cuộc đời.

Thoạt kỳ thủy, vô ngôn là một khái niệm xuất phát từ nhà Phật. Hiểu theo nghĩa hẹp, vô ngôn là không lời, nghĩa là chối bỏ mọi hình thức tồn tại của ngôn ngữ, dù là lời nói hay chữ viết. Hiểu theo nghĩa rộng, vô ngôn loại bỏ luôn cả hành động, cử chỉ, suy nghĩ. Vô ngôn, ấy là khi tâm tưởng người hành thiền đạt đến độ rỗng lặng, thuần nhất, là cửa ngõ để đạt đạo và đắc đạo. Thế nên Đức Phật từng nói: "Đạo của ta là ly ngôn tịch diệt". Sư tổ Đạt Ma thì bảo: "Giáo là lời, không phải là đạo. Đạo là không lời. Ngay nơi ngươi đạt được không lời, ngươi đạt đạo".

Theo quan điểm của nhà Phật, khi không dùng lời nói, ta tránh được khẩu nghiệp. Khi không dùng cử chỉ hành động, ta tránh được thân nghiệp. Khi không dùng đến chữ viết nữa, ta tránh được việc bị trí tưởng tượng lôi cuốn, dẫn đi xa khỏi sự thật. Và rồi cuối cùng khi đoạn tuyệt được cả với tâm ngôn, ta sẽ tránh được cả ý nghiệp và lúc đó, Tánh Giác tức thời hiển lộ.

Dĩ nhiên các thiền sư trước khi đạt đạo để rồi chuyển sang một cảnh giới khác, trong một số trường hợp họ vẫn phải nói, nhưng sẽ là nói rất ngắn. Vì vậy, một loạt các bài kệ của những Thiền sư thời Lý Trần đọc cho đệ tử trước khi các ngài tịch diệt bao giờ cũng chỉ dăm câu, điển hình như các bài của Mãn Giác thiền sư (Cáo tật thị chúng), Viên Chiếu thiền sư, Vạn Hạnh thiền sư...

Xin dẫn lại một bài tiêu biểu: "Thân như điện ảnh hữu hoàn vô/Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô/Nhậm vận thịnh suy vô bố úy/Thịnh suy như lộ thảo đầu phô". Ở Việt Nam, có cả một phái thiền mang tên Vô Ngôn Thông với những thiền sư tiêu biểu gồm Khuông Việt, Thông Biện, Mãn Giác, Minh Không và Giác Hải. Một trong những thiền sư của phái Vô Ngôn Thông đã nói một câu thật ấn tượng như lời tuyên ngôn cho con đường của mình: "Bầy chim hót giữa những bông hoa hương thơm ngào ngạt, tiếng hót của bầy chim ở đâu, đó là lời. Còn hương thơm ngào ngạt là sự im lặng, nơi đó trú ngụ chân lý".

2.Nhìn sang tất cả các bộ môn nghệ thuật, ta thấy hầu hết đều sử dụng những biểu hiện của vô ngôn trong những mức độ khác nhau. Ở thơ, đó là những khoảng trắng trên trang giấy, khoảng cách giữa các dòng thơ và khổ thơ cũng như xung quanh một văn bản thơ. Trong âm nhạc, vô ngôn biểu hiện bằng những dấu lặng, chia làm nhiều cấp độ, từ dấu lặng đơn đến dấu lặng đen, dấu lặng trắng, dấu lặng tròn, dấu lặng tròn đôi, dấu lặng tròn ba và dấu lặng tròn tư.

Trong hội họa, nhiều khi ta bắt gặp những khoảng trắng của bức tranh như một chủ ý đặc biệt của người họa sĩ. Trong nghệ thuật kịch, tồn tại hẳn một bộ môn mang tên kịch câm (pantomime). Đó là một sân khấu không lời, các nghệ sĩ chỉ dùng vẻ mặt và hành động để biểu diễn, khiến khán giả hiểu thông điệp của họ. Xuất phát ở Hy Lạp từ thế kỷ XVIII, kịch câm có những bước phát triển mạnh mẽ trong hai thế kỷ tiếp theo, được nhiều nước phương Tây ưa chuộng, trong đó có thể kể tới tên tuổi của nghệ sĩ kịch câm Marcel Marceau được hoan nghênh tại nhiều quốc gia trên thế giới bằng tài năng diễn xuất của mình. Sự vô ngôn còn được nhấn mạnh hoặc miêu tả trong nhiều tác phẩm thi ca từ thời trung đại cho tới nay.

Trong kiệt tác "Tỳ bà hành" của Bạch Cư Dị, khi miêu tả những khúc đoạn của người kỹ nữ chơi đàn trên bến Tầm Dương, nhà thơ lớn thời Trung - Vãn Đường đã hạ một câu: "Thử thời vô thanh thắng hữu thanh". Phan Huy Ích sau này dịch thành: "Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay".

Trong thi ca hiện đại Việt Nam, sự vô ngôn cũng xuất hiện trong nhiều tác phẩm. Bùi Giáng có hẳn một bài thơ mang tựa đề "Hãy vô ngôn": "Giập đầu vái tạ cô nương đẹp/ Dám hỏi bao giờ sẽ đẹp hơn/ Miệng ngọc cười xòa lên tiếng đáp/ Rằng xin các hạ hãy vô ngôn".

Nhà thơ Hồng Thanh Quang trong thi phẩm "Khúc mùa thu" (nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc thành ca khúc cùng tên) từng thốt lên: "Ngay cả nếu âm thầm em hóa đá/ Bầu trời lặng im cũng đã vỡ rơi/ Mênh mông quá khoảng trống này ai lấp/ Khi thanh âm cũng bất lực như lời".

Còn nhà thơ Anh Ngọc trong bài "Chẳng bao giờ" cũng nói về nỗi im lặng không lời khi đôi lứa chia tay nhau: "Chỉ một phút nữa thôi/ Rồi mỗi người mỗi ngả/ Chúng mình ngồi bên nhau/ Như là hai tảng đá/ Đã không còn tình yêu/ Thì có gì mà nói/ Mây cứ bay trên đầu/ Và gió thì cứ thổi.../ Bao ý nghĩ trong đầu/ Nói ra thành vô vị/ Nói ra thành vô nghĩa/ Lặng im đi thì hơn".

Hoa nở trong im lặng.
Hoa nở trong im lặng.

3.Trong xử thế, ông cha ta ngoài những lời khuyên về sử dụng ngôn ngữ còn có cả những lời khuyên về sự vô ngôn, chẳng hạn: "Im lặng là vàng", "Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe". Quả thật, trong nhiều trường hợp của đời sống, sự im lặng lại tỏ ra là cách ứng xử hữu hiệu và khôn ngoan nhất, hơn hẳn so với việc xuất ngôn hoặc đa ngôn.

Nhìn ra thế giới, nhà văn Liên Xô nổi tiếng Raxun Gamzatop cũng từng phát biểu: "Người ta cần hai năm để học nói, nhưng cần tới 60 năm để học im lặng". Dĩ nhiên, người Việt còn nhận ra cả mặt trái của im lặng nữa, trong những trường hợp im lặng để trục lợi, im lặng vì mục đích bất chính, vì thế mà có câu thành ngữ "ngậm miệng ăn tiền". Sự im lặng (vô ngôn) có khi cũng tồn tại như một quy ước của một khu vực, một bộ phận hay nhóm người nào đó.

Trong tiểu thuyết nổi tiếng "Luật im lặng" của Mario Puzo, có nói về việc ở Sicilia có một điều luật im lặng gọi là Omertà, theo đó, cấm tất cả mọi người đàn ông bình thường, phụ nữ cũng như trẻ em hợp tác với bất cứ một cảnh sát hay quan chức chính quyền nào, bằng không họ chỉ còn một con đường chết.

Hiểu theo một nghĩa rộng, vô ngôn còn đi vào nhiều lĩnh vực khác của đời sống với những biểu hiện khác nhau, nhưng cùng giống nhau ở chỗ những yếu tố thuộc phương tiện vật chất càng lúc càng bị lược bỏ. Trong võ học, ta bắt gặp quan điểm vô chiêu thắng hữu chiêu trong các tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung qua hình tượng nhân vật Độc Cô Cầu Bại. Độc Cô Cầu Bại là người có khả năng kiếm thuật vô song, suốt đời chỉ mong tìm được một người đánh bại mình mà không thể toại nguyện.

Ông có đưa ra quan điểm về dụng kiếm như sau: "Sau bốn mươi tuổi không mang binh khí. Thảo mộc trúc thạch đều có thể dùng làm kiếm. Cứ thế tinh tu, đạt tới cảnh giới vô kiếm thắng hữu kiếm". Sau này, Phong Thanh Dương đã phát triển 9 nguyên lí của Độc Cô thành một nguyên lý duy nhất mang tên "Dĩ vô chiêu địch hữu chiêu" rồi truyền cho Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung lĩnh hội được tinh thần "vô chiêu" này nên có lần mất hết nội lực mà vẫn xuất thần đâm mù mắt một lúc 15 đại cao thủ vây quanh trong miếu Dược Vương.

Trong kỳ học, cảnh giới cao nhất của chơi cờ là không cần dùng tới quân và bàn, các kỳ thủ gọi là cờ tưởng. Trong truyện ngắn nổi tiếng "Bậc cao thủ" (Dương Tường dịch sang tiếng Việt) của văn tài người Nhật Nakajima Atsushi, tác giả để cho nhân vật Ngật Trường của mình nói về cảnh giới cao nhất trong nghề xạ tiễn như sau: "Giai đoạn tột cùng của hoạt động là không hoạt động; giai đoạn tột cùng của nói năng là nín lặng; giai đoạn tột cùng của xạ kỹ là thôi không bắn".

Trở lại với định đề chính là vô ngôn, xét cho cùng, vô ngôn trong nhiều trường hợp là những lựa chọn tất yếu của đời sống. Nhưng muốn giỏi vô ngôn thì trước hết phải đi qua hữu ngôn đã. Nếu không biết cân nhắc, định lượng giữa vô ngôn và hữu ngôn, cái giá phải trả có khi chính là sinh mạng.

Chẳng thế mà lịch sử nhân loại hàng ngàn năm đã có biết bao câu chuyện về vạ miệng, có bao câu chuyện về án văn chương, chỉ một lần khinh suất, dụng hữu ngôn không đúng cách mà đi tới diệt vong. Còn với những kẻ vỗ ngực cho rằng mình đạt tới cảnh giới vô ngôn mà không cần qua hữu ngôn, đó mãi mãi chỉ là những lời khoác lác.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).