Lê Lựu - nhà văn của những tiếng cười

Bản thân Lê Lựu đã là một nhân vật lớn trong bất kỳ một cuốn tiểu thuyết nào của các tác giả khác, xung quanh con người và cuộc sống của ông đã dệt nên bao giai thoại khiến cho người đọc, người nghe cười đến ngả nghiêng, và đương nhiên ông luôn là nhân vật của chính bản thân ông.

Trong các cuộc đàm đạo văn chương chính thức và bán chính thức, chúng tôi thường đặt cho nhau một câu hỏi giả định rằng: nếu vì một lý do bất khả kháng nào đó, anh chỉ được phép cứu vội 10 cuốn tiểu thuyết đương đại của các nhà văn Việt Nam thì anh sẽ chọn những cuốn nào? Mỗi người đều có những đáp án riêng của mình, nhưng có một sự đồng thuận khá cao khi những cuốn tiểu thuyết “Thời xa vắng” của Lê Lựu; “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng; “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh và “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường luôn được ưu ái chọn lựa.

Và nhiều khi tôi cứ lẩn thẩn suy nghĩ rằng, nếu như nền văn học nước nhà trong nửa cuối thế kỷ 20 không xuất hiện nhà văn Lê Lựu thì sẽ ra sao nhỉ? Tất nhiên là sẽ không có “Người về đồng cói”; “Sóng ở đáy sông”; “Thời xa vắng”; “Hai nhà”… Vâng nếu không có những cuốn sách ấy thì hình như sẽ có một sự thiếu vắng rất đáng kể của nền văn học nước nhà, mà sự thiếu vắng lớn hơn đó chính là thiếu vắng sự hiện diện của bản thân nhà văn Lê Lựu trong đời sống văn học của chúng ta.

image001.jpg -0
Nhà văn Lê Lựu (1942 - 2022).

Bản thân Lê Lựu đã là một nhân vật lớn trong bất kỳ một cuốn tiểu thuyết nào của các tác giả khác, xung quanh con người và cuộc sống của ông đã dệt nên bao giai thoại khiến cho người đọc, người nghe cười đến ngả nghiêng, và đương nhiên ông luôn là nhân vật của chính bản thân ông. Khi đã dám đưa chính mình ra để làm nhân vật, để mà đắp lên mình bao “chiếc mặt nạ” để cho người đời khóc cười với mình thì phải là một người có bản lĩnh và tài năng xuất chúng bởi chưng rằng tâm lí chung của con người là “xấu che tốt khoe”, nhưng Lê Lựu thì không thế.

Đã từ lâu trong giới phê bình học thuật thường hay than vãn rằng văn học Việt Nam quá thiếu vắng sự hài hước, các nhà văn Việt Nam viết nghiêm túc quá, điều đó đúng nhưng bản thân chúng tôi xét thấy chưa đủ, liệu có phải chăng chúng ta đang quan niệm hài hước phải là tiếng cười bật ra đầu môi? Cũng giống như làng hài kịch nước nhà hiện nay cũng lắm tiếng cười đấy chứ, họ còn tự phong cho nhau là ông hoàng, vua hài… nhưng những tiếng cười “cù nách” chỉ có giá trị nhất thời và đem lại tiếng cười quá dễ dãi cho lớp người bình dân, nếu cứ kéo dài mãi thì chẳng góp được ích lợi gì trong việc nâng cao trình độ kiến thức thưởng thức nghệ thuật của quần chúng, còn tiếng cười của những nghệ sĩ hài thuở trước như Trịnh Thịnh, Trịnh Mai… nó còn sống lâu bền với thời cuộc. Vì tiếng cười ấy mang đầy hàm lượng trí tuệ. Tiếng cười có thể không đến ngay và luôn, nhưng tiếng cười còn ở mãi trong mỗi người xem khi nghĩ đến. Và xét cho đến tận cùng thì hình như tiếng cười từ những bi kịch mới là tiếng cười đọng lại sâu nhất trong lòng người đọc. Chúng tôi thấy được điều ấy ở trường hợp của Lê Lựu.

Trở lại tiếng cười trong tác phẩm văn học, mỗi khi nhắc đến yếu tố này, người ta nghĩ ngay đến “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, đúng là mỗi câu văn của Vũ Trọng Phụng trong “Số đỏ” luôn gây cho người đọc những tiếng cười với những trạng huống khác nhau, cười đấy và buồn đấy, cười đấy rồi khinh đấy, cười đấy rồi khóc đấy… Nhưng tiếng cười của Vũ Trọng Phụng là tiếng cười “của một ai đó ở ngoài tác giả” điều đó cũng tốt nhưng hình như nó vẫn chưa thấm bằng tiếng cười của Lê Lựu và Nam Cao (ở đây chúng tôi không so sánh về giá trị nghệ thuật của tác phẩm cũng như tài năng của các tác giả). Sở dĩ có nhận định như vậy là vì hình như toàn bộ tác phẩm của Lê Lựu, ông đều “mổ bụng mình ra cho thiên hạ xem”, những nhân vật chính trong những sáng tác của Lê Lựu đều là những Lê Lựu ''phẩy'' mà hiện hình lên trang sách. Ông đã biến mình thành nhân vật của chính mình, đưa cái dị mọ nhôm nhoam của chính mình ra để diễu và người đọc qua nhân vật của ông đã soi chiếu lại đời sống, soi chiếu lại chính mình và xã hội đương thời.

Trường hợp này cũng xuất hiện ở nhà văn Nam Cao như nhà văn Tạ Duy Anh đã từng nhận định: “Theo tôi, nếu đọc thật kĩ, sẽ thấy Nam Cao mới thực là nhà văn hài lớn nhất của văn chương Việt. Dám mang mình ra để cười nhạo, biến mình thành nhân vật hài rồi lồng vào đó sự phê phán thời đại, chưa bao giờ là dễ dàng với bất cứ người cầm bút nào”. Nhưng qua khảo sát chúng tôi thấy, cái sự “triệt để” ở Nam Cao vẫn chưa bằng Lê Lựu, nếu xem tác phẩm "Chí Phèo" là đỉnh cao của sự nghiệp văn chương Nam Cao thì ở đó chúng tôi thấy vẫn còn mờ nhạt thậm chí là thiếu vắng hình bóng của Nam Cao và còn ở nhiều tác phẩm khác của ông cũng thế.

Nhưng chúng ta thử ngẫm lại xem, Lê Lựu đậm đặc trong từng tác phẩm của ông, mà tác phẩm nào cũng có cái để cười, có cái để mà đau, mà suy ngẫm. Đọc Lê Lựu ở từng câu, từng chữ thì sẽ ít gây cười, nhưng ở những chi tiết, những trường đoạn và sau khi đọc kỹ, ngẫm kỹ sẽ gây cười. Ví dụ như chuyện của anh Sài trong “Thời xa vắng” chẳng hạn. Theo sự chỉ đạo của tổ chức - mà thực chất là một anh “đại diện” tổ chức - là Sài phải “kiên quyết cắt đứt quan hệ với người mình yêu để “thực sự yêu vợ”. Hay đoạn viết về buổi họp gia đình, bữa cơm khi nhà có khách, đám ma ông đồ trong “Thời xa vắng” được miêu tả sống động và hài hước, tạo được một không khí “nhà quê” rất đặc trưng Lê Lựu. Trong truyện “Đại tá không biết đùa”, Đại tá Hoàng Thủy để rèn luyện con, ông đã yêu cầu Công an huyện cho Tùy đi tập trung cải tạo, tự xin hoãn đi học đại học ở nước ngoài để làm công nhân, bắt con phải từ bỏ tình yêu với cô gái đã từng yêu một người khác vì cho rằng “người ta đã bỏ được người thứ nhất cũng dễ dàng bỏ đến người thứ một trăm”.

tiểu thuyết hai nhà của nhà văn lê lựu.jpg -0
Bìa tiểu thuyết "Hai nhà" của nhà văn Lê Lựu

Lê Lựu có biệt tài đưa cái hồn nhiên, dân dã vào trong tác phẩm và đặt tên nhân vật, tạo tình huống để có tiếng cười, mặt khác, ông cũng có tài khi đưa vào tác phẩm những nhân vật ngớ ngẩn, duy ý chí, cứng nhắc rập khuôn "ngu, ác một cách hồn nhiên” để tạo cho người đọc những tiếng cười thâm sâu mà chua chát. Hay tình huống ông Tâm tốt tính, hiền lành nhưng nhu nhược. Một ông Địa thâm trầm nhưng hèn hạ và độc ác ngấm ngầm trong “Hai nhà”. Thực chất hai ông chính là hai mặt của một con người, nhưng cái trớ trêu ở chỗ dù hiền lành hay độc ác thì cuối cùng cũng bị những người đàn bà lừa cho trắng mắt, dù dân gian có câu: “Đàn ông nông nổi giếng khơi/ đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Lê Lựu đưa ra một phản đề để người đọc suy ngẫm và cười và đau, cười chua chát cho nhân tình thế thái, cho đạo lý, có tình yêu, tình nghĩa vợ chồng…

Từ trước tới nay khi nhắc đến Lê Lựu, không hiểu vì sao người đọc và cả các nhà nghiên cứu thường ít nhắc đến cuốn tiểu thuyết “Hai nhà” của ông. Theo cái sự đọc của chúng tôi, nếu đọc và ngẫm kỹ, chính tiểu thuyết “Hai nhà” là “tập hai” của “Thời xa vắng” dù tất cả các nhân vật đều khác tên, khác tuổi. Nhưng khi đọc ta sẽ thấy Tâm trong “Hai nhà” chính là Sài trong “Thời xa vắng”. Tâm và Sài đều đánh mất bản thân, đều nín nhịn, chiều chuộng vợ và cuối cùng đều bị phản bội. Kết cục của Tâm là hai đứa con mà anh dốc lòng chăm bẵm đều không phải con đẻ của anh, cay đắng hơn, đứa con của một người bạn thân chết oan trong trò gian dâm của vợ anh. “Hai nhà” và “Thời xa vắng” đều dần mở ra những ô cửa sổ để người đọc khám phá căn nhà rộng lớn có tên Lê Lựu, tựu trung lại là những bi kịch do chính con người tạo ra, những bi hài kịch do lòng hận thù, ích kỷ, tham lam, dâm đãng, vô văn hóa của chính con người.

Cũng có thể do cái bóng của “Thời xa vắng” quá lớn nên đã chen mất “Hai nhà” chăng? Hay vì văn phong của “Hai nhà” khác với văn phong của Lê Lựu vốn có? Trong “Hai nhà” là một Lê Lựu lọc lõi, sâu cay và lạnh lùng một cách triệt để, một Lê Lựu dám dấn thân đi đến tận cùng của cái ác, cái giả trá và lật lọng? Mà người đời thì vốn thích ấm áp và vị tha? Có phải vì những điều trên mà “Hai nhà” ít được nhắc đến? Chúng tôi vẫn tìn rằng đến một ngày nào đó, nếu bạn đọc đọc kỹ cuốn tiểu thuyết “Hai nhà” của nhà văn Lê Lựu sẽ nhìn được thêm một mặt vốn khuất lấp của chính Lê Lưu.

Tuy nhiên, nếu đọc văn học mà tin một trăm phần trăm nhân vật là tác giả thì quả là mới đọc ở con mắt chứ chưa đọc bằng cái đầu, nhưng trường hợp của Lê Lựu thì mới chỉ đọc bằng con mắt cũng đã dễ nhận ra, còn nhận ra bao nhiêu phần trăm thì tùy thuộc ở bạn.

Nguyễn Thế Hùng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).