Lê Bá Thự - Cười

Dịch giả - nhà thơ Lê Bá Thự là một người hiền lành, chân chỉ và tình cảm. Cách đây hơn chục năm, anh nhờ tôi vẽ bìa cho tập thơ đầu tay có tên là "Hoa giẻ". Tôi cảm nhận thơ anh cũng mộc mạc chân thành như con người anh vậy: "Quê mình nhiều hoa giẻ/ Nên chúng mình thương nhau". Rồi thấy anh dịch sách từ tiếng Ba Lan. Năm nào anh cũng có mấy cuốn sách dịch văn học Ba Lan được xuất bản. 

Dịch sách văn học không chỉ thông ngoại ngữ mà thành. Dịch văn học, trước hết phải có khả năng thẩm định tác phẩm như một nhà phê bình giỏi, biết chọn tác phẩm hay, tác phẩm hợp thời, tác phẩm mà mình có thể dịch được. Dịch văn đã khó, dịch thơ còn khó hơn, vì ngôn ngữ thơ là loại ngôn ngữ hình tượng chứa nhiều ẩn dụ, đa nghĩa và ma quái. Và anh phải hiểu ngôn ngữ trong ngữ cảnh và văn hóa của ngôn ngữ gốc. Vậy mà Lê Bá Thự đã có nhiều thành công trong cái nghề mà anh tự nhận là "phu chữ" đó. Và anh đã đoạt được nhiều giải thưởng về dịch.

Nhưng tôi nghĩ là dịch truyện cười mới là điều khó. Ngay cả kể chuyện tiếu lâm, không phải ai kể cũng làm người ta cười được. Kể truyện cười mà không cười được thì thật là vô duyên. Có lần tôi và nhà thơ Trần Quang Quý đi dự Liên hoan Thơ quốc tế ở Indonesia, trong cuộc giao lưu với mấy trăm độc giả nói tiếng Anh, tôi kể một câu chuyện cười về nhà thơ.

Dịch giả - nhà thơ Lê Bá Thự.
Dịch giả - nhà thơ Lê Bá Thự.

Kể xong quay sang Trần Quang Quý với vẻ lo lắng, vì anh đang là người "dịch cabin" cho tôi. Không ngờ, sau lời dịch của Quý, cả khán trường cười ồ lên. Khi về nước, nhà thơ Hữu Thỉnh hỏi tôi: Quý dịch tốt không? Tôi nói: Tôi kể truyện cười mà Quý dịch làm người ta cười ồ lên, bác thấy thế nào? Hữu Thỉnh ngạc nhiên: Giỏi! Giỏi! Tuyệt vời… 

Vậy mà trong chồng sách dịch của Lê Bá Thự có đến 4 tập truyện cười: "Cười quanh năm", "Năm châu cùng cười"," Hành tinh cười" và "600 truyện cười". Quả là Lê Bá Thự đưa tôi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Anh tặng tôi cả 4 tập sách này, tôi đọc, con tôi đọc, rồi bạn của con tôi mượn về đọc… Cuối cùng thì cả 4 cuốn đều ra đi mà không trở lại. Điều đó chứng tỏ Lê Bá Thự dịch truyện cười có duyên.

Thực ra truyện cười bắt nguồn từ dân gian được truyền miệng, rồi được người ta chọn lọc ghi chép lại. Nhưng dần dà, có nhiều người viết truyện cười. Và nó thành một dòng trong văn học. Cho dù ngắn hay dài thì nó vẫn có yếu tố truyện bao gồm nhân vật và hoàn cảnh. Nó thường được kể bằng lời dẫn chuyện và lời đối thoại. Ngôn ngữ truyện cười khá bình dân, nhưng lại hay dùng lối chơi chữ rất thông minh.

Tất nhiên tất cả những điều đó, dù dài hay ngắn đều có tác dụng gây cười khi câu chuyện kết thúc. Có truyện kết thúc là gây cười ngay, có truyện phải ngẫm nghĩ rồi mới bật cười. Lại có cười ồ, cười nắc nẻ, cười mỉm, cười thầm, cười khinh bỉ, cười phẫn nộ… dù nó được sinh ra từ cái buồn cười.

Người ta định nghĩa về cái cười khá rắc rối như sau: "Cái cười là hành động cười nảy sinh khi tự ta phát hiện ra thực chất trái tự nhiên, trái (hoặc khác hẳn) lẽ thường dưới bề ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường, đã khiến ta thoạt tiên tưởng lầm của một hiện tượng".

Nhưng nhìn chung thì người ta cười khi phát hiện ra cái ngớ ngẩn hay cái đểu giả trong câu chuyện mà mình được nghe/đọc. Vì vậy khi dịch/chuyển ngữ truyện cười, người dịch không chỉ bật cười khi đọc từ ngôn ngữ gốc, mà sau khi dịch ra ngôn ngữ khác cũng phải khiến người đọc bật cười như mình đã bật cười. Vậy thì người dịch cũng phải thông minh và có sẵn tính hu-mua (gây cười) như người đã sáng tác truyện cười. Đọc những bản dịch truyện cười của Lê Bá Thự ta thấy rõ điều đó. Thử đọc vài truyện dịch của anh:

Tại đồn cảnh sát

Một cô gái mặt tái mét, nước mắt đầm đìa, đến báo cảnh sát:

 - Thưa ngài cảnh sát, em vừa đi xe buýt, kẻ cắp lấy hết sạch tiền của em rồi ạ, một số tiền rất lớn, em mang đi mua xe ôtô.

- Chị để tiền chỗ nào mà mất?

- Thưa ngài cảnh sát, em giắt gói tiền trong cạp quần của em ạ.

- Thế lúc hắn lần tay vào trong quần, chị không cảm thấy gì hay sao?

- Dạ thưa ngài cảnh sát, có, em có "cảm thấy", nhưng em tưởng hắn có ý đồ tốt...

Chúa sống ở đâu?

Trong giờ học tôn giáo, linh mục hỏi học trò:

- Ađam, em hãy trả lời thầy, Chúa sống ở đâu?

- Thưa thầy, Chúa sống trong nhà tắm nhà em ạ.

- Ađam, em nói gì kì lạ vậy, tại sao?

- Thưa thầy, vì sáng nào mẹ em cũng đấm mạnh vào cửa và hô to: Ôi, lạy Chúa tôi, ngài vẫn còn đang ở trong nhà tắm hay sao?

Cái thật thà đến ngớ ngẩn của nhân vật cô gái và đứa trẻ trong hai câu chuyện trên đã được tác giả thể hiện với một thái độ khách quan, lạnh lùng, và đã được Lê Bá Thự dịch ra tiếng Việt đến mức như chính người dịch đã "sáng tác" ra nó vậy. 

Thực ra trong đời sống, tiếp xúc với Lê Bá Thự, tôi ít thấy anh nghịch ngợm hay tếu táo. Nhưng đọc hàng trăm truyện cười anh dịch, tôi mới thấy con người này cũng "không phải đùa đâu"! Có thể anh có tính nghịch ngầm, đáo để chẳng kém ai. Đó là cái khả năng không "phát tiết ra ngoài" mà chỉ bộc lộ trong công việc dịch thuật, nghĩa là anh thuộc loại người "duyên lặn vào trong", âm thầm và lặng lẽ. Điều này khiến tôi nhớ về nhà văn Vũ Trọng Phụng, khi đọc những cuốn sách của ông như "Lục Xì","Làm đĩ", "Số đỏ" hay "Giông tố"… thấy bày ra bao điều trần tục kinh khủng của hiện thực đời sống, nhưng ngoài đời ông lại là một người nhút nhát, đạo đức, sống nghèo túng và thanh bạch.

Với sự cố gắng làm người "phu chữ" không mệt mỏi, Lê Bá Thự luôn cống hiến cho độc giả những trang dịch nghiêm túc bằng cả tình yêu của mình với văn học, trong đó có một "Lê Bá Thự cười" Việt hóa tiếng Ba Lan.

Hà Nội, Tết Bính Thân 2016

Nguyễn Trọng Tạo

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).