Lan man quanh tờ lịch 30-4

Về hình thức thời gian, hiển nhiên, ngày 30-4-1975 cũng chỉ bình thường như bao ngày khác -“Lịch” mà không có “Sử” thì chỉ là “Lịch” thôi - Nhưng vì có “Sử”, mà với người Việt Nam chúng ta, ngày 30-4-1975 mới thành ra “Ngày vĩ đại”.

I. Về hình thức thời gian, hiển nhiên, ngày 30-4-1975 có từ “Công lịch” (Lịch Mặt trời). Nếu không có “Công lịch”, cũng về hình thức thời gian, đó sẽ là hai ngày khác, có từ “Âm lịch” (Lịch Mặt trăng) và “Phật lịch” (Lịch nhà Phật). 

Thế là trên “Lịch”, ngày ấy cũng chỉ bình thường như bao ngày khác -“Lịch” mà không có “Sử” thì chỉ là “Lịch” thôi - Nhưng vì có “Sử”, mà với người Việt Nam chúng ta, ngày 30-4-1975 mới thành ra “Ngày vĩ đại”.

* *  *

“Sử” đã “chuẩn bị” cho ngày 30-4-1975 như thế nào? Ngược dòng thời gian, nếu không có cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), tất không có “Ngày vĩ đại” ấy. Trong 20 năm này, người Việt đã gạt máu đứng lên từ “Luật 10-1959”, đã gan góc đi ra từ “Đồng khởi”; đã đường hoàng với “Mặt trận Dân tộc giải phóng”, “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam”; với “Ba thứ quân” và “Quân giải phóng”. 

Ta đã là một, từ “Hậu phương lớn” đến “Tiền tuyến lớn” - không bao giờ để sông Bến Hải chặn đường. Miền Bắc thì “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Thóc không thiếu một cân/ Quân không thiếu một người”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”…; Miền Nam thì “Còn một cái lai quần cũng đánh”, “Bám thắt lưng địch mà đánh”… 

Ta “nối liền” 20 năm ấy bằng “Đường mòn Hồ Chí Minh”- “Trận đồ bát quái xuyên rừng rậm” - con đường ra trận có một không hai trong lịch sử chiến tranh nhân loại; ta biến Đông Dương thành một chiến trường, biến nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, thành đồng minh; ta “len lỏi” giữa những phân hóa và rạn nứt trong phong trào cộng sản quốc tế để có được sự ủng hộ lớn lao từ cả phe XHCN một thời; ta sang Pa-ri để “vừa đánh vừa đàm…”.

Lực lượng vũ trang ta, chiến tranh nhân dân ta, vạm vỡ dần lên qua Ấp Bắc, Bầu Bàng, Đồng Xoài, Ba Gia, Bình Giã, Núi Thành, Vạn Tường… cho đến Đắc Tô- Tân Cảnh, Ia-đrăng, Đường 9- Nam Lào, Bình Long, Phước Long… rồi “Mậu Thân” 1968, “Mùa hè Quảng Trị” 1972…, đặc biệt là “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm ấy, để đến Mùa xuân 1975, thì từ Ban Mê đổ xuống, từ hướng Bắc tràn vào, từ Bình-Phước lao sang, từ Miền Đông ập tới và thế là, khát vọng thống nhất “trăm năm”, được những người Việt thời đại Hồ Chí Minh trực tiếp thực hành.

II. Thế là đã rất phức tạp, rất máu xương, rất đằng đẵng…! Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào 20 năm ấy, thì lại là đơn giản quá! Tiếp tục ngược chiều năm tháng, ta sẽ có câu hỏi khác: Nếu không có Điện Biên Phủ 1954 thì liệu có ngày 30-4-1975 như thế? “Chín năm làm một Điện Biên”, tức là ta đã chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược, kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ nhất, từ năm 1946 -“Nhớ hôm ra đi đất trời bốc lửa/ Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng”! Nhưng như thế đã đủ chưa? Chưa! Trước đó là 15 năm (1930-1945) của “Cách mạng vô sản”, trước đó nữa là “Việt Nam Quang phục hội”, “Đông Du”, “Đông Kinh nghĩa thục”…; là “Thái Nguyên”, “Yên Thế”… và trước đó nữa, là “Cần vương”.

Nói đến tận “Cần vương” thì có quá xa không? Không! Nếu ta lật lại ít trang “Sử” Nguyễn triều:

- Ngày 28-11-1783, chúa Nguyễn khi ấy là Nguyễn Phúc Ánh, giao vương ấn và hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine), ủy nhiệm cho viên giáo sĩ này thay mặt mình, sang Pháp đàm phán xin trợ giúp nhằm đánh lại Quang Trung.

- Năm 1787, Bá Đa Lộc/ thay mặt Nguyễn Ánh, cùng với Bá tước Măng-ma-ranh (De Mantmarin)/ thay mặt vua Lu-i XVI của Pháp, ký “Hiệp ước Véc-xây”, nhượng cho Pháp cửa biển Tu-ran (Đà Nẵng) và quần đảo Côn Lôn (trong đó, lớn nhất là Côn Đảo). Tuy rằng sau đó, vì vướng Cách mạng Tư sản Pháp, hiệp ước này không được thực hiện và sau này, Nguyễn Ánh (đã thành vua Gia Long) cũng không bao giờ muốn thực hiện, thì về lý thuyết, một phần lãnh thổ Việt Nam, đã bị đem “cầm cố” từ đó và sau này, ngày 1-9-1858, khi xâm lược nước ta, nơi đầu tiên quân Pháp đổ bộ, là Đà Nẵng - Sơn Trà!

- 10 giờ sáng 28-11-1861, Thủy sư đô đốc Pháp, Bô-nác-đơ (Bonard), hạ lệnh cho Thông báo hạm Noóc-gia-ga-rây chiếm Côn Đảo, kéo cờ Pháp. Trung úy thuyền trưởng Thông báo hạm, Lơ-pê-xơ Xê-bát-chiên Ni-cô-lát Hoa-kim (Lespès Sebastien Nicolas Joachim), ra bản “Tuyên cáo chủ quyền” của Pháp, với quần đảo Côn Lôn!

- Ngày 14-1-1862, tàu vận tải Ni-ê-vơ-rơ đưa thợ và vật liệu ra Côn Đảo, xây ngọn hải đăng đầu tiên của Pháp trên biển - đảo Việt Nam.

- Ngày 1-2-1862, Bô-nác-đơ ký sắc lệnh xây “Nhà tù Côn Đảo”...

Nói kỹ thế, để trở lại việc chính: “Nhà tù Côn Đảo” khởi xây từ năm 1862 bởi người Pháp, phong trào “Cần vương” bắt đầu từ năm 1885, vậy ai là người tù Việt đầu tiên của “Nhà tù Côn Đảo”? Ta chưa biết! Chỉ biết đến 2 người tù “Cần vương” đầu tiên ở đây. Đó là hai anh em sinh đôi, Đặng Trác Vân và Đặng Phong Tài. Cả hai đều là tùy tùng của vua Hàm Nghi khi ngài xuất bôn chống Pháp và đều bị đày ra Côn Đảo vào năm 1899. Bây giờ, tên của hai anh em yêu nước ấy được đặt tên cho 2 hòn đảo trong số 16 đảo của quần đảo Côn Lôn, đó là “Hòn Trác” và “Hòn Tài”.

Thế là “Nhà tù Côn Đảo”- “Địa ngục trần gian” - được người Pháp lập ra rồi kẻ sau “kế nghiệp”, đã giam cầm/ tra tấn/ giết hại tù nhân người Việt suốt 113 năm (1862-1975), mà như đã nói, tù nhân ở đây là những người, ít nhất là từ “Cần vương”, qua thời thuộc Pháp cho hết thời Mỹ-ngụy. Hơn 2 vạn người tù đã chết ở đây! Họ đã “cùng ta” chống ngoại xâm Âu-Mỹ từ đó. Không một địa danh nào ở nước ta, lại có thể đại diện “xuất sắc” hơn cho “Kỷ nguyên mất nước” của ta như Côn Đảo! Cũng không đâu có thể đại diện xuất sắc hơn, cho “Kỷ nguyên bất khuất” đòi độc lập - thống nhất - tự do của ta, như Côn Đảo.

Từ hai người tù đầu tiên của “Kỷ nguyên” vừa nói, đến người tù cuối cùng ra khỏi xà-lim Côn Đảo ngày 30-4-1975 là Lê Quang Vịnh, khí phách Việt đủ sức mạnh để đuổi Pháp, đuổi Mỹ, mà cái mốc son vĩ đại chính là ngày 30-4-1975. Như thế, tối thiểu là người Việt đã trực tiếp chống ngoại xâm Âu-Mỹ từ khi Pháp thực chiếm Côn Đảo (1861). Tính đến ngày 30-4-1975 là 114 năm!

“Lịch” là thế. Còn bao nhiêu “Sử” trong 114 năm ấy, ai mà chép hết? Nhiều triệu người Việt đã ngã xuống trong thời gian đó. Ai ngã xuống đúng ngày 19-8-1945, ngày 9-5-1954, ngày 30-4-1975 và nhiều ngày lịch sử khác? Không thể biết hết được! Chỉ biết rằng, người Việt yêu nước trong lịch sử cận-hiện đại Việt Nam, chung nhau có ngày 30-4-1975 -  “Ngày vĩ đại”.

Không “Ngày vĩ đại” nào sinh ra từ sự bình thường/ tầm thường. Và, không phải sống thế nào cũng xứng với ngày ấy.

Đỗ Trung Lai

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.