Hồi ức của những thương binh nặng tiêu biểu toàn quốc

Khi Tổ quốc gọi tên (bài 1)

Bên lề buổi Gặp mặt, tuyên dương thương binh nặng tiêu biểu toàn quốc năm 2019 vừa diễn ra tại Hà Nội, chúng tôi đã được gặp gỡ những thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng hy sinh tuổi thanh xuân, dành cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. 

Thậm chí, nhiều đồng chí đã để lại một phần thân thể, máu xương nơi chiến trường mà mỗi khi trái gió trở trời, vết thương năm nào lại nhức buốt, nhắc nhớ. Tuy nhiên, vượt lên tất cả, bằng ý chí và nghị lực phi thường, họ điều dưỡng thương tật, ổn định đời sống, trở thành tấm gương sáng cho hậu thế noi theo...

Người lính thông tin trong mưa bom bão đạn

Ngồi xe lăn chờ lấy phòng nghỉ tại Nhà khách Chính phủ (37 Hùng Vương, Hà Nội) với chi chít những huân, huy chương trên ngực áo, ông Phạm Văn Vĩnh (1949), trú phường Văn An, TP. Chí Linh, Hải Dương trông khá mệt mỏi khi vừa trên chuyến xe lên Thủ đô dự cuộc gặp mặt. Thế nhưng khi được đề nghị chia sẻ về những ký ức tham gia cuộc chiến năm xưa, mắt ông ánh lên vẻ tự hào, nhanh nhẹn. Và câu chuyện cứ thế tuôn trào. 

“Năm 1967, nghe tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ, tôi làm đơn xin nhập ngũ, vào Nam chiến đấu. Được phân về Trung đoàn 21, Sư đoàn 2, Quân khu 5. Nhiệm vụ của tôi lúc bấy giờ là cán bộ thông tin liên lạc”, ông Vĩnh kể. 

Hàng ngày, chàng thanh niên 18 tuổi ấy với sức trẻ và nhiệt huyết xông pha đã liên tục đi lại như con thoi xuống các đơn vị để truyền đạt lệnh của cấp trên, từ trung đoàn xuống các tiểu đoàn.

“Cán bộ thông tin liên lạc nghe thì tưởng là nhàn mà cực kỳ vất vả, đi một mình mà gặp địch thì một mình chiến đấu để bảo toàn được thông tin, không bị lọt vào tay địch”, ông lý giải.

Hai thương binh nặng Phạm Văn Vĩnh và Phạm Bá Bảy về dự cuộc gặp mặt tại Hà Nội.
Hai thương binh nặng Phạm Văn Vĩnh và Phạm Bá Bảy về dự cuộc gặp mặt tại Hà Nội.

Khó khăn gian khổ là vậy nhưng ông Phạm Văn Vĩnh đã liên tục vượt qua và hoàn thành nhiệm vụ. Năm 1968, trong chiến dịch giải phóng quận Thượng Đức (huyện Hoà Vang, Quảng Nam), Trung đoàn 21 bị mất liên lạc với Tiểu đoàn 4, ông được giao nhiệm vụ vượt sông, vượt qua mưa bom bão đạn để nối lại liên lạc. Quá trình này ông đã chiến đấu với địch, tiêu diệt và làm bị thương nhiều tên, đảm bảo an toàn khi sang đến cầu Hoà Hữu. 

“Đến 20h mới gặp được anh em, hầu hết đã hy sinh, nằm trong hàng rào của điểm A, phía Tây quận Thượng Đức. Lúc đó Trung đoàn giao cho tôi 12h trưa hôm sau hoàn thành nhiệm vụ về báo cáo. Tuy nhiên, có một sự kiện đột xuất xảy ra. Khi gặp đồng chí Ấn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 thì anh thông báo điểm A bị lộ, máy liên lạc bị hỏng, không kết nối được với Trung đoàn. Để tiếp tục chiến đấu, đồng chí Ấn nhờ tôi cầm lá thư liên lạc với Trung đoàn, đề nghị 24h đêm hôm đó hỗ trợ pháo kích vào điểm A”, ông Vĩnh nhớ lại. 

Vậy là không thể chần chừ được nữa, ông quyết định không nghỉ ngơi mà đi ngay trong đêm để kịp về báo cáo. Bắt đầu đi từ 21h30, một mình lần mò trong rừng sâu núi thẳm với bao hiểm nguy rình rập, ông đã kịp trở về Trung đoàn truyền đạt thông tin. Và ngay hôm đó, phía ta đã giải phóng được điểm A. Sau chiến công xuất sắc này, ông được Sư đoàn 2 tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Đầu năm 1969, ông tham gia đánh chống càn ở thôn An Chánh, xã Lộc Thành, huyện Đại Lộc, Quảng Nam, tiêu diệt được nhiều tên nguỵ, giúp tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ anh em thương binh và khí tài, được thưởng tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì. 

Tháng 8-1971, trong một lần làm nhiệm vụ ở Đức Phổ (Quảng Ngãi), ông nhận được điện của Trung đoàn về ngay để chuẩn bị chiến trường Bình Định. Ông và một đoàn anh em mấy tổ đài đi đến đèo Ông Nguyện, thuộc huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi thì bị trúng pháo phục kích của địch. Một cán bộ hy sinh, riêng ông cụt mất đôi chân. Sau mấy tháng điều trị, chiến trường đã cho ông ra Bắc an dưỡng, về Trại thương binh ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, nay là Trung tâm nuôi dưỡng tâm thần người có công và xã hội Hải Dương.

Năm 1975 phục viên về địa phương, ông làm Đội trưởng Đội sản xuất nông nghiệp tại thôn Đồi Thông, xã Chí Minh, huyện Chí Linh. Năm 1978, ông được bầu làm Bí thư chi bộ thôn, từ năm 1979-1981 làm Phó trưởng Công an xã Chí Linh. Có thể nói, hình ảnh thương binh nặng Phạm Văn Vĩnh là tiêu biểu cho câu nói “thương binh tàn mà không phế” của Bác Hồ. 

Với tác phong nhanh nhẹn, tính tình thẳng thắn, thời kỳ làm Phó trưởng Công an xã, ông còn lắp chân giả để đi tuần tra bằng xe đạp. Phụ trách hình sự, bảo vệ trị an, giải quyết mâu thuẫn hay những vụ trộm cắp, đánh nhau... người thương binh năm nào vẫn không ngại khó hay chối từ công việc. Lập gia đình năm 1973 với người vợ làm nông nghiệp ở địa phương, hai ông bà có với nhau 5 người con và nay đều đã trưởng thành, kinh tế ổn định. 

“Tuổi tác giờ đã cao rồi, hôm nay tụ họp về Thủ đô chúng tôi rất phấn khởi. Cách đây 52 năm, Tổ quốc gọi tên mình. Sau 52 năm, Tổ quốc lại nhắc đến mình, cảm thấy rất vui vì chúng tôi còn đủ sức khoẻ để dự buổi gặp mặt ý nghĩa như thế này”, ông xúc động nói.

Lính đặc công và những lần làm “Lễ truy điệu sống”

Cùng đoàn và là đồng hương với ông Vĩnh, ông Phạm Bá Bảy (SN 1950), quê ở Sao Đỏ, TP. Chí Linh vẫn còn vẻ rắn rỏi, linh hoạt của một người lính đặc công. Năm hai mươi tuổi, với nhiệt huyết của tuổi trẻ, sau khi học xong nghề cơ điện, chàng thanh niên ấy lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc. 

Ban đầu, tổ chức định sắp xếp ông làm nhiệm vụ lái xe tăng. Tuy nhiên, xét thấy nguyện vọng của ông là được tham gia vào một đơn vị đặc công với sức khoẻ loại tốt, cấp trên đã đồng ý. 

“Ngày đấy còn trẻ, khí thế và nhiệt huyết lắm. Với lại, khi còn ở nhà, tôi đã ngưỡng mộ những người lính đặc công. Họ giỏi, nhanh nhẹn, gan dạ và bí hiểm, hay nói cách khác là “xuất quỷ nhập thần” nên khi đi bộ đội, tôi đã ghi rõ nguyện vọng được tham gia vào lực lượng đặc công”, ông Bảy tự hào.

Chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3-1975) là chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược, đã tiêu diệt và đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự của Mỹ ngụy ở Tây Nguyên; tạo ra thời cơ và điều kiện thuận lợi phát triển thành cuộc tổng tiến công chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam. 

Sân bay Hoà Bình (nay là sân bay Buôn Mê Thuột) là địa bàn có vị trí rất quan trọng, lợi hại, địch sử dụng làm nơi đổ quân, đổ phương tiện, tập trung lực lượng đi ứng cứu các nơi hoặc phản kích đánh chiếm lại mục tiêu đã bị mất. 

Trung đoàn Đặc công 198 đảm nhận nhiệm vụ đánh chiếm sân bay Hòa Bình. Khi đó, ông Phạm Bá Bảy được biên chế vào Tiểu đoàn 27, một trong những đơn vị được giao nhiệm vụ đánh vào điểm khó khăn nhất, quan trọng nhất của địch ở Sân bay Hoà Bình. 

Quanh căn cứ mục tiêu có nhiều lớp hàng rào, xen kẽ giữa các lớp rào là bãi mìn. Lớp tường đất bao quanh căn cứ đắp cao và dày, các lô cốt và các ụ súng cũng được bố trí ngay trong tường đất hướng mũi súng ra ngoài. Hai hầm chỉ huy của Trung đoàn trưởng bằng bê tông xây chìm xuống đất...

Chỉ cho chúng tôi xem thương tích và những mảnh kim khí vẫn còn nằm lại trên thân thể, người lính đặc công Phạm Bá Bảy kể: “Lính đặc công chỉ mặc bộ quần áo cộc, đeo vài quả lựu đạn, dao găm, khẩu súng để bí mật chui sâu vào trận tuyến của địch. 

Do vậy, trước khi lên đường làm nhiệm vụ, chúng tôi đã được anh em trong đơn vị làm “Lễ truy điệu sống” rồi”. Là lính đặc công lại làm nhiệm vụ trinh sát, có thể nói, ông và đồng đội là những người đi mở đường đầu tiên. Giữa những “hàng rào mìn” rộng lớn và dày đặc, đi đến đâu họ cũng phải gỡ mìn đến đấy. Nguyên tắc của lính đặc công là khi bước không bao giờ đặt cả bàn chân xuống đất mà phải đặt từ từ bằng gót, nhẹ nhàng. Khi phát hiện mìn phải tìm cách phân biệt loại mìn và tháo gỡ. Bởi chỉ một sơ suất thôi thì không có lần thứ 2 để sửa chữa...

Vì là vị trí cực kỳ quan trọng của cả ta và địch nên cuộc chiến đấu càng gay go, ác liệt hơn. Tranh giành nhau từng vị trí. Tương quan lực lượng giữa ta và địch lớn, địch mạnh, ta yếu. Cũng vì vậy nên chỉ đánh một tối là hết đạn dược và lương thực. Trong khi đó, xe tăng của ta bị địch chặn, chưa vào được đến nơi để hỗ trợ. Cố cầm cự sang đến ngày thứ ba, gần 1/3 đơn vị đã hy sinh. Sau tiếng nổ dữ dội vào đêm ngày thứ ba, ông Bảy ngất lịm, mảnh kim khí găm khắp cơ thể. 

“Tuy nhiên, sau 7 ngày đêm chiến đấu, ta đã chiếm giữ hoàn toàn sân bay, đánh tan hàng chục đợt phản kích của địch”, ông nói. 

Trở lại cuộc sống đời thường với thương tật 1/4, sức khoẻ giảm sút rất nhiều, mất sức lao động, ông mở một quán nước nho nhỏ để tạo niềm vui và cũng là kiếm thêm thu nhập, đỡ đần vợ chăm lo cho con cái. Với những gì đã trải qua của cuộc đời mình, ông hiểu rõ giá trị của “hoà bình”. Trong những quyển sách của con, ông thường ghi dòng chữ “Bố hy sinh để nâng cánh cho các con đi đến những ước mơ”...

Quỳnh Vinh – Vũ Linh

Các tin khác

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.

Từ con đường độc lập đến khát vọng vươn mình

Từ con đường độc lập đến khát vọng vươn mình

“Việt Nam thành công không chỉ vì đạt được thành tựu đáng chú ý, mà còn vì đã tìm ra con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn quốc gia”, Đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ chia sẻ. Còn với Đại sứ Liên minh châu Âu Julien Guerrier, trong 30 năm qua, mỗi lần ông đến Việt Nam đều cảm nhận sự đổi thay và tiến bộ rõ rệt...