(Ấn tượng về “Hà thành hương xưa vị cũ”, tạp bút của Vũ Thị Tuyết Nhung, Nxb Hà Nội, 2021)

Hương chưa xưa vị chưa cũ

Khi đọc 563 trang sách khổ lớn (16x24) Hà thành hương xưa vị cũ của tác giả Vũ Thị Tuyết Nhung, riêng tôi lại nghĩ, hương chưa xưa vị chưa cũ nếu đó là cái đẹp đích thực, bởi vì cái đẹp có khả năng đứng ngoài quy luật của sự băng hoại.

Văn hóa ẩm thực Thăng Long - Hà Nội đã được đúc kết trong sách Tuyển tập tác phẩm về văn hóa ẩm thực Thăng Long - Hà Nội (Phạm Quang Long - Bùi Việt Thắng tuyển chọn và giới thiệu, NXB Hà Nội, 2010). Tưởng chừng như đã đầy đủ nếu người đọc muốn thưởng thức vẻ đẹp văn hóa của ẩm thực đất Kinh kỳ trong chiều dài lịch sử thời gian 1000 năm. 

Nhưng khi đọc 563 trang sách khổ lớn (16x24) Hà thành hương xưa vị cũ của tác giả Vũ Thị Tuyết Nhung, riêng tôi lại nghĩ, hương chưa xưa vị chưa cũ nếu đó là cái đẹp đích thực, bởi vì cái đẹp có khả năng đứng ngoài quy luật của sự băng hoại.

Đọc tạp bút của Vũ Thị Tuyết Nhung, càng củng cố trong chúng ta xác tín - không có chuyện đề tài cũ hay mới, chỉ có điều người viết có tâm huyết và tài năng hay không. 

Tác giả thuộc kiểu “hai trong một” (tốt nghiệp đại học ngành văn, hành nghề báo, nguyên Trưởng Ban biên tập Văn hoá xã hội, Đài PT - TH Hà Nội), nên những trang viết vừa có cái náo hoạt của một ngòi bút “tân văn”, lại vừa có cái lắng đọng, điềm tĩnh, sâu lắng của người đắm đuối văn chương.

Bìa cuốn “Hà thành hương xưa vị cũ” của Vũ Thị Tuyết Nhung.
Bìa cuốn “Hà thành hương xưa vị cũ” của Vũ Thị Tuyết Nhung.

“Hà thành hương xưa vị cũ” được kiến thiết từ hai phần: Phần một (Ký ức từ căn bếp cổ), Phần hai (Miếng ngon từ làng ra phố). Khi viết về cuốn sách của Vũ Thị Tuyết Nhung, tôi chợt đọc thấy tin trên báo điện tử VnExpress (14-3-21): “Trường THPT Hai Bà Trưng (TP Huế) được Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cho thí điểm dạy môn học “Nữ công gia chánh”, bắt đầu từ năm học 2021-2022”. Lập tức cư dân mạng sôi réo dư luận. 

Một nữ nhà văn Việt định cư ở nước ngoài viết trên Blog cá nhân, giật tít “Đảm đang tôm rang hành mỡ: Tôi không can ai nuôi chí đảm đang tôm rang hành mỡ, chỉ xin tiết lộ trong nhà tôi, ngôi đảm đang số một hiện nay thuộc về chiếc lò hấp nướng đa năng Miele (...). Càng nghèo khó lạc hậu, càng thủ cựu tăm tối, càng cần phụ nữ đảm đang”. 

Cái giọng chì chiết, đay nghiến đồng bào mình này là ai, tôi không cần nhắc tên cụ thể, hẳn nhiều người biết rõ. Một liên hệ tạt ngang như thế để rồi cùng người đọc bỏ lại sau lưng mọi định kiến đi vào “căn bếp cổ” của Vũ Thị Tuyết Nhung. 

Có lẽ tôi thuộc thế hệ “người muôn năm cũ” nên thích những món trong căn bếp cổ này chăng: Ấm chè xanh ngày cũ; Bát canh dưa chiều đông ấm; Bát cơm rượu cho bà ngoại xứ Thanh; Cái chạn bếp trong ngôi nhà xưa; Canh chua Hà Nội bốn mùa đắp đổi; Điểm danh mấy món nộm cổ truyền Hà Nội; Hai món chè Tết cổ truyền Hà Nội; Thơm hương bánh giò nóng; Quả sấu đầu hè yêu nhớ; Mía ướp hoa bưởi; Kỷ vật từ căn bếp nhà mẹ,... 

Tôi chỉ chấm phá đôi ba món trên tổng số hơn bốn mươi món như là những thời trân trọng căn bếp cổ của cư dân Hà Thành xưa (và có thể nay). Tôi mồ côi mẹ từ lúc lên ba (1954) nên trong tiềm thức bóng hình mẹ trở nên mơ hồ, đôi lúc trong mơ thổn thức tìm kiếm một hình ảnh ruột rà mà khó thay. 

Nên khi đọc “Kỷ vật từ căn bếp nhà mẹ” đã đồng cảm ngay với tác giả: “Này là chiếc tráp trầu khảm trai bịt đồng. Mẹ tôi hồi còn sống hay bày chiếc tráp ấy trong ngăn tủ chùa cũng khảm trai, trông thật là long lanh óng ánh. Hằng ngày, mẹ chỉ thường dùng chiếc âu trầu bằng đồng thau xinh nhỏ. Lễ tết, cưới hỏi mẹ mới trưng ra chiếc tráp trầu khảm trai. Tôi từ thời thiếu nữ đã biết têm trầu cánh phượng, thi thoảng giúp mẹ bày trầu trên ngăn mặt tráp để các thím, các mợ trong họ đi xin dâu. Tự mình cũng mê chiếc tráp và những khẩu trầu têm cánh phượng có mấy tua lá xanh biếc cắt răng cưa bay bướm và miếng vỏ quế tỉa mào phượng đỏ chót gài trên cánh hoa hồng. Trong lòng tráp, mẹ hay cất mấy thứ đồ lặt vặt như bộ xà tích bạc có ống vôi quả đào xinh xắn, chùm chìa khóa cũ han gỉ...”. 

Thế hệ như tác giả (SN 1957) và tôi thường thích thú khi tự mình đi tìm thời gian đã mất theo lối sống chậm, hoài niệm dĩ vãng, ôn cố tri tân như một động hướng tinh thần.

Phần thứ hai của sách có tựa “Miếng ngon từ làng ra phố”. Trước khi thưởng thức phần này, tôi đã cẩn thận và kỹ lưỡng đọc lại danh tác “Miếng ngon Hà Nội” (bắt đầu viết tại Hà Nội, mùa thu năm 1952; sửa chữa và viết thêm tại Sài Gòn các năm từ 1956 đến 1959) của nhà văn Vũ Bằng. Đọc để biết rằng mình có bị mất thời gian về những cái “biết rồi khổ lắm nói mãi” hay không. 

Thật bất ngờ khi 39 miếng ngon từ làng ra phố trong phần này là bản quyền của Vũ Thị Tuyết Nhung, vì thế mà trong “Lời giới thiệu”, nhà phê bình Văn Giá (đồng môn thời đại học của tác giả sách) đã âu yếm viết về Ẩm thực Hà Nội của Nhung: “Tôi cứ mường tượng ra cái cảnh ai đó trong một đêm đông đã chui vào chăn ấm, đang thả lòng vào những trang viết “Hà thành hương xưa vị cũ”, rồi bất thần không chịu được mà vùng dậy lao xuống phố đi tìm món ăn món uống Hà Nội nào đó của Nhung... Chẳng phải đó là một hạnh phúc thật dễ thương sao!”. 

Trong mục “Trước khi ngừng bút” in cuối “Miếng ngon Hà Nội”, nhà văn Vũ Bằng tha thiết viết: “Duy chỉ có miếng ngon Hà Nội là không đánh lừa ai cả. Miếng ngon Hà Nội bao giờ cũng trung thành, êm ái, miếng ngon Hà Nội bao giờ chiếm được lòng ta như một người vợ hiền chiếm được lòng chồng (...). Miếng ngon Hà Nội cũng thế, cũng trầm lặng như vậy”. Tất nhiên, Vũ Thị Tuyết Nhung cũng là người Hà Nội gốc. “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”, của thế hệ sinh sau hòa bình (1954), ít nhiều còn neo giữ được chất Hà thành so với các thế hệ sau này. 

Đọc “Hà thành hương xưa vị cũ” của Vũ Thị Tuyết Nhung tôi có chủ ý đi tìm cái nét biệt sắc lối viết của thế hệ 5X. Những “miếng ngon” này rõ ràng là mang tính thời sự, thời đại của riêng Vũ Thị Tuyết Nhung: Cơm cặp lồng ngày ấy bây giờ; Những món ăn dành cho gái đẻ; Nhớ hai món giò ngon Thái Bình; Quà trung du trám trắng, trám đen; Tản mạn chuyện cà riềng cà tỏi; Một vòng quê ngoại - khu phố ẩm thực Ngũ xã,... 

Tôi là dân xứ Nghệ từ trong máu huyết, nhưng khi đọc “Tản mạn chuyện cà riềng cà tỏi”, mới thấy tác giả viết về “cà Nghệ” như thể là người đồng hương chính cống của mình. Dẫu tác giả có vân vi: “Gọi tên giống cà Nghệ như thế, không biết là có phải do nó có gốc gác từ xứ Nghệ xa xôi, hay là để nhắc đến cái màu vàng như màu củ nghệ của quả cà già để giống cho vụ sau”. 

Mà cũng không ai, tôi nghĩ, đem chuyện này ra phân xử đúng sai rành rẽ. Tác giả là người của thời bao cấp khốn khó nên mới viết tỉ mỉ (pha chút u-mua) cái chuyện “Cơm cặp lồng ngày ấy bây giờ”. Giọng văn hơi đỗi bùi ngùi xót xa về một thời đói khổ tận cũng theo nghĩa đen của từ này. 

Bài này viết theo trải nghiệm sống, cả trải nghiệm văn hóa qua hình ảnh cái cặp lồng cơm thô sơ đầu những năm tám mươi thế kỷ trước và những chiếc cặp lồng cơm hiện đại thời nay. Thật là một trời một vực. Người không qua gian khổ không hiểu được niềm vui khi từ bé đã ấm no, đầy đủ tiện nghi. 

Tác giả chia sẻ: “Thế đấy, các con tôi, chúng không biết rằng người Hà Nội đã từng trải qua bốn đời cơm cặp lồng từ thô sơ đến hiện đại. Đâu có dễ từ bỏ thói quen đã ăn sâu trong nếp sống hằng ngày. Những chiếc cặp lồng như những vật chứng của lịch sử ăn uống, sinh hoạt gắn với biết bao no đói, buồn vui của mấy thế hệ người Hà Nội trong nửa thế kỷ qua. Có lúc chúng được quý hóa giữ gìn, có khi lại bị xa rời, bỏ bẵng”.

Cuối bài viết nhỏ về tác phẩm “Hà thành hương xưa vị cũ” của Vũ Thị Tuyết Nhung, tôi muốn nhấn mạnh thêm một ý - sách dày nhưng đọc không chán, ngoài cái tình với Hà thành văn vật, còn có cái duyên thầm của chữ nghĩa. 

Đúng vậy “Văn chương là nghệ thuật ngôn từ”. Giữ cho được cái nhiệt hứng khi viết về văn hóa ẩm thực Thăng Long - Hà Nội trong một độ dài gần 600 trang sách khổ lớn đã là khó. Giữ chân độc giả ngày nay thông minh hơn nhưng khó tính hơn, càng khó. Nhưng thật ngoạn mục, khi tác giả đã thực thi được một nhiệm vụ kép - làm đẹp con chữ qua đó hiển hiện vẻ đẹp của văn hóa ẩm thực chốn Kinh kỳ.

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).