Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ được xây dựng trên cơ sở kế thừa, cập nhật các quy định của pháp luật hiện hành, góp phần tạo hành lang pháp lý chặt chẽ, đồng bộ, phục vụ hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.
An toàn của người dân là mục tiêu xuyên suốt
Xã hội an toàn trước hết phải là xã hội mà mỗi người dân được bảo vệ trước những nguy cơ đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp. Trong đó, việc quản lý chặt chẽ vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ có vai trò hết sức quan trọng, bởi đây là những phương tiện có khả năng gây sát thương, gây thiệt hại lớn, thậm chí dẫn đến những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu bị sử dụng trái pháp luật.
Thực tiễn cho thấy, những hành vi sử dụng súng tự chế, dao có tính sát thương cao, vật liệu nổ để giải quyết mâu thuẫn cá nhân, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ hoặc thực hiện các hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại trực tiếp cho nạn nhân mà còn tạo ra tâm lý bất an trong xã hội, gây mất niềm tin của quần chúng nhân dân đối với cơ quan quản lý nhà nước. Cùng với sự phát triển của công nghệ, hoạt động mua bán trên không gian mạng và các phương thức vận chuyển hàng hóa ngày càng tinh vi đặt ra thách thức lớn đối với công tác quản lý, phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.
Xuất phát từ yêu cầu đó, dự thảo luật xác định rõ phạm vi điều chỉnh bao gồm quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ; nguyên tắc và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Quy định này thể hiện quan điểm nhất quán: quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ không chỉ là hoạt động quản lý hành chính nhà nước mà còn là một trong những biện pháp quan trọng để bảo vệ con người, giữ gìn môi trường sống bình yên và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước.
Điều 3 của dự thảo quy định hệ thống nguyên tắc quản lý, sử dụng, trong đó yêu cầu việc trang bị phải đúng thẩm quyền, đúng đối tượng; hoạt động quản lý, sử dụng phải bảo đảm đầy đủ điều kiện pháp luật; người có thẩm quyền ra mệnh lệnh hoặc quyết định sử dụng phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Đặc biệt, khoản 5 Điều 3 yêu cầu việc sử dụng phải hạn chế thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe con người, tài sản và an toàn đối với môi trường sống. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự thống nhất giữa yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự với nhiệm vụ bảo vệ quyền con người.
Kiểm soát chặt chẽ vũ khí, ngăn chặn nguy cơ tội phạm từ sớm, từ xa
Một trong những nội dung quan trọng của dự thảo luật là thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ các hành vi liên quan đến vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ ngay từ khâu nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, bảo quản đến trang bị và sử dụng. Điều 4 của dự thảo luật quy định 16 nhóm hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm hành vi sở hữu trái quy định, chế tạo, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; hành vi giao các phương tiện này cho tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện; hành vi che giấu, không tố giác các vi phạm có liên quan. Khoản 13 Điều 4 nghiêm cấm việc hướng dẫn, huấn luyện, tổ chức huấn luyện trái phép cách thức chế tạo, sản xuất, sửa chữa, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ hoặc quảng cáo vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ dưới mọi hình thức.
Quy định này có ý nghĩa thiết thực khi mà thông tin hướng dẫn chế tạo vũ khí, vật liệu nổ có thể bị phát tán trên không gian mạng. Việc kiểm soát không chỉ đối với hành vi sử dụng trái phép mà còn đối với hoạt động hướng dẫn, truyền bá phương thức chế tạo trái phép góp phần ngăn chặn nguy cơ phạm tội ngay từ giai đoạn chuẩn bị. Điều 2 của dự thảo luật xác định cụ thể các loại vũ khí, trong đó có quy định về dao có tính sát thương cao được sử dụng với mục đích xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khỏe con người thì xác định là vũ khí quân dụng. Dao sử dụng nhằm thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối người thi hành công vụ thì được xác định là vũ khí thô sơ. Việc phân định theo tính chất, mục đích sử dụng góp phần tạo cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi nguy hiểm, đồng thời tránh đồng nhất các công cụ lao động, sinh hoạt thông thường với vũ khí.
Điều 74 quy định các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, sử dụng dao có tính sát thương cao phải phù hợp thực tiễn, không gây cản trở hoạt động bình thường của tổ chức, cá nhân. Đây là cách tiếp cận hợp lý, kết hợp yêu cầu phòng ngừa tội phạm với bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Sử dụng vũ khí đúng pháp luật, bảo vệ người dân và người thi hành công vụ
Một xã hội an toàn không chỉ đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ vũ khí ngoài xã hội mà còn phải bảo đảm việc sử dụng vũ khí của các lực lượng được giao nhiệm vụ thực thi pháp luật đúng thẩm quyền, đúng tình huống và đúng giới hạn. Điều 18 và 19 của dự thảo luật xác định các đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng và loại vũ khí được trang bị đối với một số lực lượng. Các quy định này tạo cơ sở để lực lượng chức năng có phương tiện thực hiện nhiệm vụ, đồng thời bảo đảm việc trang bị phù hợp với tính chất, yêu cầu công tác. Điều 22 quy định các nguyên tắc sử dụng vũ khí quân dụng khi thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Theo đó, việc sử dụng phải căn cứ vào tình huống, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi.
Về nguyên tắc, chỉ sử dụng khi không còn biện pháp nào khác. Khoản 2 Điều 22 quy định việc hạn chế sử dụng vũ khí đối với các nhóm người dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng thời yêu cầu trong mọi trường hợp phải hạn chế thiệt hại do việc sử dụng vũ khí gây ra. Điều 23 tiếp tục cụ thể hóa các trường hợp nổ súng quân dụng khi thực hiện nhiệm vụ độc lập, phân biệt trường hợp phải cảnh báo trước với trường hợp được nổ súng không cần cảnh báo. Những quy định này có ý nghĩa rất quan trọng, một mặt, tạo hành lang pháp lý để người thi hành công vụ chủ động, kiên quyết ngăn chặn những hành vi nguy hiểm, bảo vệ tính mạng người dân và chính bản thân mình, mặt khác, đặt ra giới hạn pháp lý rõ ràng nhằm phòng ngừa việc lợi dụng, lạm dụng vũ khí, bảo đảm mọi hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước đều phải tuân thủ pháp luật.
Bảo đảm an toàn vật liệu nổ, gắn yêu cầu bảo đảm an ninh với phát triển kinh tế
Bên cạnh vũ khí quân dụng, việc quản lý vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự an toàn xã hội. Trong thực tế, vật liệu nổ công nghiệp là nguồn lực cần thiết phục vụ khai thác khoáng sản, xây dựng công trình, phát triển kết cấu hạ tầng và nhiều hoạt động kinh tế khác. Tuy nhiên, nếu quản lý lỏng lẻo, việc thất thoát, sử dụng sai quy trình hoặc không bảo đảm điều kiện an toàn có thể gây tai nạn nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng người lao động và cộng đồng dân cư. Điều 38 của dự thảo luật quy định cụ thể điều kiện sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, trong đó yêu cầu tổ chức, doanh nghiệp phải bảo đảm điều kiện về kho, thiết bị, phương tiện, địa điểm sử dụng; đáp ứng các yêu cầu về an ninh, trật tự, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường và khoảng cách an toàn đối với công trình, đối tượng cần bảo vệ.
Điều 42 quy định trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp trong kiểm tra an toàn, đánh giá nguy cơ rủi ro, xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp, phương án và giấy phép nổ mìn, đồng thời bảo quản, lưu trữ sổ sách, chứng từ đối với từng loại vật liệu nổ công nghiệp trong thời hạn 10 năm. Đối với tiền chất thuốc nổ, luật yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp duy trì điều kiện an ninh, an toàn, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường; thực hiện chế độ lưu trữ chứng từ, báo cáo và chỉ mua bán các loại tiền chất thuốc nổ thuộc danh mục được phép theo quy định.
Có thể thấy, các quy định này không chỉ hướng tới phòng ngừa tai nạn, sự cố mà còn góp phần kiểm soát nguy cơ thất thoát vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ để sử dụng vào mục đích phạm tội. Qua đó, tạo điều kiện để hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra an toàn, ổn định và bền vững.
Thu hồi vũ khí ngoài xã hội, phát huy trách nhiệm của toàn dân
Dự thảo Luật quy định tương đối toàn diện về tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, thanh lý và tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Theo khoản 1 Điều 60, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thông báo, giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ cho cơ quan quân sự, cơ quan Công an hoặc đơn vị Quân đội nơi gần nhất khi không thuộc đối tượng được trang bị, sử dụng mà có được vũ khí, vật liệu nổ từ bất kỳ nguồn nào. Điều 61 xác định các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và các trường hợp thuộc diện tiếp nhận, thu gom, bao gồm cả vũ khí, vật liệu nổ còn tồn tại ngoài xã hội sau chiến tranh. Những quy định này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để huy động sự tham gia của nhân dân trong việc phát hiện, giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, góp phần giảm thiểu nguy cơ xảy ra các vụ việc gây mất an ninh, trật tự. Mỗi khẩu súng trái phép được thu hồi, mỗi quả bom, mìn được phát hiện và xử lý an toàn không chỉ là kết quả của hoạt động quản lý nhà nước mà còn là một nguy cơ đối với tính mạng, sức khỏe người dân được loại bỏ.
Với hệ thống quy định bao quát từ quản lý nguồn gốc, điều kiện trang bị, sử dụng đến thu hồi, tiêu hủy và quản lý bằng dữ liệu, dự thảo luật góp phần củng cố nền tảng pháp lý cho công tác bảo vệ an ninh, trật tự trong tình hình mới. Hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ chính là góp phần bảo vệ sự bình yên của mỗi gia đình, sự an toàn của mỗi cộng đồng, sự ổn định của đất nước. Đó cũng là điều kiện quan trọng để xây dựng một Việt Nam kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.