Họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc - Người gieo mầm Thiền vào mảnh đất Mỹ thuật Việt

Lần đầu tiên, kể từ năm 1988, một triển lãm cá nhân được dành trọn để tôn vinh nghệ thuật của họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc (1912-1997) - một tên tuổi tiêu biểu nhưng khiêm nhường của Mỹ thuật Đông Dương đầu thế kỷ XX.

Triển lãm mang tên "Di sản đặc biệt của Mỹ thuật Đông Dương - Họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc - Nơi Hội họa gặp Thiền và Thiết kế Nội thất bắt đầu từ một thái độ sống". Vượt trên một triển lãm cá nhân, mỗi tác phẩm, hiện vật là một chương của cuộc đối thoại kỳ diệu giữa nghệ thuật và ký ức, mở cửa chào đón công chúng từ ngày 4/9 đến 30/10/2025 tại V-Art Space Hà Nội.

untitled-1.jpg -0
Họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc.

1. Triển lãm giới thiệu hơn 40 tác phẩm và hiện vật, trải từ địa hạt mỹ thuật đến thiết kế kiến trúc-nội thất. Với bố cục theo bốn chủ đề, triển lãm dẫn dắt khán giả đi vào "vùng đất" riêng của cố họa sĩ, nơi vẻ đẹp mộc mạc, nho nhã của làng quê Bắc Bộ được chưng cất thành hội họa.

Nhà phê bình Nguyễn Anh Tuấn viết: "Trịnh Hữu Ngọc, người nghệ sĩ đã gieo mầm Thiền vào mảnh đất mỹ thuật Việt, kiến tạo nên một ngôn ngữ biểu đạt thiền họa rất riêng: không phô trương, không ồn ào, chỉ có sự lắng đọng khiêm cung mà chạm đến tận cùng cảm xúc. Ông không xem đối tượng như một motif trang trí hay một đồ họa, mà chuyên tâm nắm bắt hình thái sống động, độc nhất của vạn vật. Bắt rễ từ triết lý Thiền, ông xem mình như một trung gian để năng lượng của thiên nhiên đi qua thị giác, chuyển hóa bên trong tâm trí, rồi hiển lộ trong tác phẩm. Triển lãm vì thế trở thành một hành trình chiêm nghiệm tâm hồn nghệ sĩ hòa quyện với hơi thở của thiên nhiên và đời sống con người, trong màu của mái ngói, hình của hoa lá, trong sự tĩnh tại của chủ thể hiện diện trên bức tranh, tất cả đều thấm đẫm một chiều sâu tư tưởng dung dị nhưng hiếm có - "Mắt nhìn tay vẽ là một lối Thiền ai cũng có thể theo được".

Có thể nói, di sản của họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc để lại rất phong phú. Ở đây, người xem sẽ có dịp nhìn lại hành trình sáng tạo của ông một cách đầy đủ nhất. Chủ đề thứ nhất là những tác phẩm hội họa được tuyển chọn từ 1939 đến 1992. Đó là những tác phẩm phong cảnh, tĩnh vật giản dị, nên thơ. Ở đó biểu lộ sự hòa quyện làm một giữa tâm hồn nghệ sĩ và vùng đất mà ông gắn bó, một thế giới nội tâm sâu lắng được thể hiện qua những gam màu nhẹ nhàng và đường cọ điềm tĩnh. Trong đó, ông vẽ một bức tranh mang tính lịch sử, đó là "Phố Hàng Đào ngày tiếp quản Thủ đô".

Có lẽ Trịnh Hữu Ngọc là họa sĩ duy nhất trong số tất cả các sinh viên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã mang giá vẽ ra đón chào sự kiện lịch sử ấy bằng một tác phẩm trực họa của mình. 10 năm sau đó, khi cảm xúc đã chín và họa sĩ có đủ thời gian để nhìn nhận sự kiện lịch sử, Trịnh Hữu Ngọc lại thực hiện một bức tranh khác với đề tài "Hà Nội ngày tiếp quản", sử dụng chất liệu sơn ta truyền thống với những sáng tạo mới mẻ.

Ở chủ đề thứ hai, các sáng tạo thiết kế đi vào đời sống qua những hiện vật nội thất gỗ mang thương hiệu MÉMO trứ danh một thời. Mỗi chiếc ghế, chiếc bàn được chế tác từ năm 1940 đến 1968 không chỉ là đồ vật, mà là minh chứng cho một quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh - nơi vẻ đẹp và công năng giao hòa, lặng lẽ góp phần chấn hưng thẩm mỹ sống của người Việt.

Và một chứng tích sống động của lịch sử dân tộc xuất hiện trong triển lãm, đó là bộ bàn ghế nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nên bản Tuyên ngôn Độc lập, hiện đang được gìn giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Sự hiện diện của bộ bàn ghế do chính Trịnh Hữu Ngọc và cộng sự chế tác là một khoảnh khắc thiêng liêng, nơi tài năng của một nghệ sĩ đã giao thoa với vận mệnh của đất nước.

Chủ đề thứ ba về những hiện vật đời thường, những kỷ vật cá nhân, là nơi mà khán giả chạm vào một cõi rất riêng của người nghệ sĩ. Đó là những mảnh ghép dung dị, giúp ta hiểu thêm về con người ông - một tâm hồn lớn đã sống một cuộc đời tự do, tự tại và cống hiến không ngừng.

Không gian cuối cùng của triển lãm mở ra một cuộc đối thoại thế hệ, nơi tinh thần hội họa thiền vị từ người cha được tiếp nối và biến chuyển trong thế giới quan của người con trai, họa sĩ Trịnh Lữ. Như một sự tiếp nối tinh thần sống và quan điểm nghệ thuật, họa sĩ Trịnh Lữ tiếp tục hành trình vẽ của mình một cách âm thầm, lặng lẽ nhưng đầy xúc cảm. Vẫn là mạch cảm xúc tĩnh tại được thừa hưởng từ người cha, nhưng giờ đây, nó được cất lên bằng biểu đạt thủ thỉ, tâm tình của riêng Trịnh Lữ.  Ông có rất nhiều tác phẩm phong cảnh đẹp, giản dị và tràn đầy tình yêu, sự hứng khởi với thiên nhiên, cỏ cây… Có lẽ, họa sĩ Trịnh Lữ là người thấu hiểu hơn ai hết tinh thần sống và vẽ của cha, và ông đi tiếp hành trình ấy bằng những sáng tạo riêng của mình.

2. Trịnh Hữu Ngọc (1912-1997), họa sĩ và nhà thiết kế nổi bật, là một trong những người đặt nền móng cho nghệ thuật tạo hình hiện đại Việt Nam. Ông sinh tại Bắc Giang, sớm bộc lộ năng khiếu hội họa. Năm 1933, ông thi đỗ vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (nay là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam), trở thành một trong những sinh viên thế hệ đầu tiên.

Tại đây, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các giáo sư người Pháp, uyển chuyển kết hợp mỹ học cổ điển phương Tây với tinh thần Á Đông, định hình phong cách riêng. Sức sáng tạo của ông không dừng lại ở những bức tranh hay kỹ thuật chế tác sơn ta độc đáo, mà còn lan tỏa vào mỹ thuật ứng dụng qua thương hiệu kiến trúc-nội thất MÉMO danh tiếng hay những trang minh họa cho báo "Tri Tân", sách "Hoa Xuân". Những bản vẽ ấy đóng vai trò quan trọng trong việc định hình thẩm mỹ cho nhiều công trình và thiết kế biểu trưng quốc gia.

Năm 1968, khi bom đạn chiến tranh biến cơ nghiệp thành tro bụi, ông đã nhặt nhạnh từng mảnh ký ức từ đống tro tàn, kết chúng lại thành "Lều Vịt" - nơi cố họa sĩ ẩn mình bên hồ Tây. Ngôi lều ấy không chỉ là một mái che, mà là một cõi tự tình của tinh thần, nơi ông đối thoại với chính mình qua từng màu sắc, nét vẽ và những phút giây thiền định.

untitled-2.jpg -1
Bức tranh “Phố Hàng Đào ngày tiếp quản thủ đô” của họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc.

Có thể nói, cuộc đời Trịnh Hữu Ngọc chính là tác phẩm nghệ thuật lớn lao và cảm động nhất, một minh chứng cho thấy phẩm giá và sự kiên cường của con người có thể tỏa sáng rực rỡ nhất từ trong những hoàn cảnh khốc liệt nhất. Người xem được nhìn ngắm những hiện vật được lưu giữ và trưng bày trong triển lãm, được thấy minh chứng cho quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh, thầm lặng cống hiến với những tư tưởng đổi mới của ông.

Trong cuốn sách "Họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc - Di sản đặc biệt của Mỹ thuật Đông Dương" của họa sĩ Trịnh Lữ, con trai cố họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc có viết: "Cụ là người không lưu vong, cụ vẽ những gì xung quanh, những gì cụ yêu quý trong cuộc sống bình dị, đó là chủ đề nghệ thuật. Quan điểm nghệ thuật của cụ cũng rất rõ ràng, một nghệ sĩ không nhất thiết phải như ta nghĩ mà rất độc lập, đàng hoàng, rất tự do, không phụ thuộc vào ai cả. Họ sinh ra để phục vụ đời sống, làm đẹp cho cuộc sống".

Triển lãm này không chỉ là cơ hội thưởng lãm di sản nghệ thuật tĩnh lặng mà trường tồn trong các tác phẩm hội họa và thiết kế, mà còn là cơ hội tiếp thu cả những di sản tinh thần sinh động về thái độ sáng tạo nghệ thuật, cùng những tư tưởng làm nền tảng cho thái độ ấy, vốn từng được họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc đúc kết và giảng dạy cho một thế hệ sinh viên từ đầu thập niên 1960, cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đây không chỉ là một sự kiện nghệ thuật mà còn là cầu nối ý nghĩa, giúp thế hệ trẻ tiếp cận và kế thừa một phần di sản văn hóa đương đại quan trọng của Việt Nam.

Đại diện nơi tổ chức V-Art Space chia sẻ: "Chúng tôi hy vọng thông qua triển lãm, công chúng có thể nhìn lại một thời kỳ đầy tính sáng tạo, nơi nghệ thuật Việt Nam gắn bó mật thiết với vận mệnh đất nước".

Mỹ Hiền

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).