Hoa đào trong thi ca Việt

Đã từ lâu, mùa xuân luôn được coi là mùa tưng bừng khoe sắc của các loài hoa, muôn loài thảo mộc cùng tốt tươi, cây lá đâm chồi nảy lộc. Với mỗi người Việt Nam khi Tết đến xuân về, ai cũng sẽ chọn mang về nhà mình những bông hoa tươi thắm nhất theo sở thích của từng cá nhân. Và một trong những loài hoa gắn với không khí ngày Tết nhiều hơn cả, chính là hoa đào.

1. Nếu như nhiều loại hoa khác có thể nở quanh năm thì hoa đào chỉ nở vào mùa xuân. Từ trong ca dao người Việt đã có rất nhiều câu mang hình ảnh hoa đào. Hoa đào trước hết là đại diện cho một vẻ đẹp rực rỡ của thiên nhiên: “Rằng đây thu cúc xuân đào/ Mơ xe mận lại gió chào trăng thu; Bướm vàng bướm trắng bướm xanh/ Bay qua lượn lại quẩn quanh vườn đào”. Tiếp đến, hoa đào gắn với vẻ đẹp của những thiếu nữ ở độ rực rỡ đầy xuân sắc: “Thấy em mắt phượng môi son/ Mày ngài da tuyết đào non trên cành”; “thiếp như cánh hoa đào/ Đang tươi đang tốt thiếp trao cho chàng".

Hoa đào và những biến thể ngôn ngữ khác của nó (đào, vườn đào, cánh đào…) vì thế còn có khả năng biểu tượng cho tình yêu đôi lứa, cho tuổi trẻ của mỗi con người: “Vườn đào vừa tốt vừa tươi/ Mời chàng nho sĩ vào chơi vườn đào”; “Bây giờ mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa”. Màu sắc rực rỡ của hoa đào còn đi vào nhiều đơn vị định danh khác như rượu đào hay lụa đào: “Tay tiên bưng chén rượu đào/ Đổ đi thì tiếc uống vào thì say”; “Thân em như tấm lụa đào/ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”.

sắc đào báo xuân copy.jpg -1
Chợ hoa đào ngày giáp Tết.

Vẻ đẹp đằm thắm mà mong manh của cánh hoa đào khiến ai muốn thưởng thức hoa cũng phải nhẹ nhàng, nâng niu thương tiếc. Hoa đào cùng các biến thể của nó không biết tự khi nào còn có khả năng biểu hiện về một thế giới thiên tiên, thoát tục, cách xa với chốn phàm trần.

Từ bài thơ “Tống biệt” của Tản Đà đã có bóng dáng của đào ngay từ câu mở đầu tác phẩm: “Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai/ Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi”. Cho đến tuyệt phẩm Thiên Thai của nhạc sĩ Văn Cao thì ca từ của ca khúc là bản thiên tiên nhã nhạc quyến rũ người nghe bằng một huyền thoại khói sương. Khát vọng tình yêu, khát vọng cái đẹp và khát vọng bất tử là ba cảm hứng cùng hòa quyện và không thể thiếu đi những cánh hoa đào: “Âm ba thoáng rung cánh đào rơi/ Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời/ Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan/ Quê hương dần xa lấp núi ngàn/ Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền/ Ai hát trên bờ Đào Nguyên”.

2. Sang đến thời kỳ Thơ Mới, hoa đào đi vào tác phẩm của nhiều thi sĩ. Thơ tình Xuân Diệu không thể thiếu hoa đào khi đặt bên cạnh vẻ đẹp người thiếu nữ: “Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui/ Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời/…Gió thơm phơ phất bay vô ý/ Đem đụng cành mai sát nhánh đào” (Nụ cười xuân).

Còn với Vũ Đình Liên, hoa đào gắn với vẻ đẹp đặc trưng của ngày Tết cổ truyền nhưng đồng thời cũng thấm đẫm nỗi buồn bởi sự mai một của một vẻ đẹp văn hóa. Đó là thú chơi thư pháp bên cạnh hình ảnh những ông đồ cho chữ: “Mỗi năm hoa đào nở/ Lại thấy ông đồ già/ Bày mực tàu giấy đỏ/ Bên phố đông người qua/…Năm nay đào lại nở/ Không thấy ông đồ xưa/ Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ " (Ông đồ).

Nhưng có lẽ Nguyễn Bính là thi sĩ Thơ Mới đưa hoa đào vào thơ nhiều hơn cả. Hoa đào trong thơ Nguyễn Bính có thể gắn với nỗi buồn của những tình yêu dang dở: “Hoa đào từng cánh rơi như tưới/ Xuống mặt sân rêu những giọt buồn/ Như những tim tình tan vỡ ấy/ Nhện già giăng mắc sợi cô đơn” (Thôi nàng ở lại). Hoa đào có thể gắn với nỗi nhớ của những người yêu nhau: “Chàng ở nơi đâu? Thiếp ở nhà/ Cây đào năm ngoái lại ra hoa/ Chân trời rượu uống môi chàng ướt/ Cửa sổ mưa bay lệ thiếp nhòa" (Xuân thương nhớ).

Hoa đào gắn với những bước đường giang hồ lưu lạc trong một nỗi nhớ quê hương không thể nào nguôi của thi sĩ chân quê: “Vườn nhà thấp thoáng hoa đào nở/ Chị vẫn môi son vẫn má hồng/ Áo rét ai đan mà ngóng đợi/ Còn vài hôm nữa hết mùa đông/ Cột nhà hàng xóm lên câu đối/ Em đọc tương tư giữa giấy hồng” (Xuân tha hương), “Hoa mai quán trọ trắng như sương/ Len với hoa đào dưới khóm dương/ Dang dở một thân nơi đất khách/ Tết này ta lại ngắm hoa suông” (Quán trọ).

Sau cùng, hoa đào còn gắn với cả một dự cảm tiên tri của Nguyễn Bính về ngày tạm biệt cuộc đời. Ông đã trút hơi thở vào ngày cuối cùng của năm âm lịch Ất Tỵ, như muốn để lại một mùa xuân mãi mãi cho trần gian, đúng như những câu thơ ông từng viết trong bài “Nhạc xuân”: “Hôm nay là xuân mai còn xuân/ Một cánh đào rơi nhớ cố nhân/ Cung nữ như hoa vườn Thượng uyển/ Ai về Chiêm quốc với Huyền Trân?/…Huyền Trân ơi/ Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi/ Giờ đây chín vạn bông trời nở/ Riêng có tình ta khép lại thôi!”.

Có thể nói, hoa đào là một trong những loài hoa gợi lên cháy bỏng nỗi khát khao đoàn tụ sum họp, khát khao được trở về bên những người thân, bên gia đình yên ấm, đặc biệt là trong những ngày cuối năm: “Con biết xuân này mẹ chờ tin con/ Khi thấy mai đào nở vàng bên song” ("Xuân này con không về" - Nhạc và lời: Trịnh Lâm Ngân).

ngày tết ai cũng muốn chọn mọt cành đào thắm thật đẹp để đónn xuân.jpg -0
Ngày Tết ai cũng muốn chọn một cành đào thắm thật đẹp để đón xuân.

3. Sau 1975, hoa đào tiếp tục đi vào nhiều tác phẩm của các nhà thơ tên tuổi. Đất nước bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của hòa bình thống nhất, lòng người cũng vì thế mà phơi phới sắc xuân mỗi khi một năm mới sắp về: “Hoa đào trước ngõ em qua/ Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa/ Đầy vườn lộc biếc cây tơ/ Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu” ("Hoa đào nở sớm" - Chế Lan Viên). Tình yêu với hoa đào cũng là tình yêu với quê hương, là những kỷ niệm luôn đong đầy: “Em hiểu lòng ta với/ Còn thương nhớ hoa đào/ Em hãy về áo đỏ/ Như Nguyên đán năm nào/ Sài Gòn không mưa bụi/ Mùa đông hay mùa xuân/ Em có là chim sẻ/ Tha mây về cuối năm” ("Thương nhớ hoa đào" - Đỗ Trung Quân).

Do những đặc trưng của địa lý - khí hậu mà ở Việt Nam, hoa đào thường được coi là loài hoa đặc trưng vào mùa xuân của miền Bắc còn hoa mai được coi là loài hoa đặc trưng vào mùa xuân của miền Nam. Nếu như thi sĩ Đỗ Trung Quân sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, rồi lại viết những câu thơ về hoa đào thấp thoáng bóng hình một người con gái đất Bắc, thì nhà thơ Trần Mạnh Hảo lại là người gốc Bắc nhưng sau này chuyển vào Nam sinh sống, ông đã viết về hoa đào trong tâm thế nhớ thương quê cũ: “Yêu hoa đào, ngắm hoa mai/ Tôi về Nam gửi hồn ngoài Thăng Long/ Hoa đào xưa gió long đong/ Mới hay tài sắc đừng mong xuôi chèo/ Bướm ong còn biết vượt đèo/ Hoa đào xưa của ta theo một đời/ Hồn hoa năm cũ lại cười/ Một thời xuân bởi còn người đào hoa…”. (Hoa đào năm ngoái).

Đến Tết Giáp Thìn này, nếu còn tại thế, nhà thơ Vân Long (1934 -2022) sẽ tròn 90 tuổi. Ông có một hành trình thơ bền bỉ kéo dài hơn nửa thế kỷ với nhiều bài thơ câu thơ đầy say đắm, trẻ trung, tha thiết với cuộc sống và tình yêu.

Trong gia tài thơ của Vân Long có một bài thơ khá đặc biệt mang tên “Cây đào năm ngoái” mà tôi muốn dùng để khép lại bài viết này: “Đất chẳng có một tấc/ Sống lơ lửng tầng hai/ Lại chơi đào cả gốc/ Hết Tết đào cũng phai/ Đành bưng sang vườn bạn/ Đào lại nảy thêm nhành/ Lúc nhớ, sang vườn ngắm/ Lòng lại lơ thơ xanh/ Tết sau, mua gốc khác/ Cứ như người phụ tình/ Qua vườn chào gốc cũ/ Bùi ngùi buồn một mình”.

Một bài thơ viết về mùa xuân, về hoa đào nhưng lại mang trong đó cả niềm vui và nỗi buồn, mang cả bao đắm say với đời sống nhưng cũng đồng thời không ít những tự vấn trong thế giới nội tâm. Làm sao để vừa sống đúng được với lòng mình, vừa giữ được trọn vẹn những thủy chung tình nghĩa cho dù đối với một gốc đào, cho dù đối với những cánh hoa. Tưởng như chuyện không có gì mà bài thơ đã thực sự mang một chiều sâu của cảm xúc và lay động tất cả những người đọc, nhắc nhở mỗi chúng ta phải nhìn lại những gì đã qua trong từng ngày từng giờ.

Biết bao thế hệ thi sĩ từ cổ chí kim đã viết về hoa đào. Những biểu hiện sáng tạo của mỗi tác giả, tác phẩm có thể khác nhau nhưng thông điệp đều có những điểm chung gặp gỡ. Đó là tình yêu với cái đẹp, với quê hương xứ sở và cội nguồn; là những khúc ca đắm say về tình yêu đôi lứa, giúp ta gột rửa đi bao muộn phiền để thắp lên niềm vui và đắm say bất tận với cuộc đời.

Mỹ Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).