Đọc “Hồ Xuân Hương - Đời và Thơ” của Vũ Nho, NXB Hội Nhà văn, 2022

Hồ Xuân Hương từ nguồn tư liệu mới

Là công trình nghiên cứu của PGS.TS Vũ Nho dựa trên nguồn tư liệu mới, cuốn sách dày 440 trang khổ 14.5 x 20.5, gồm hai phần (Cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Thơ Hồ Xuân Hương) và một Phụ lục (Một số nghiên cứu về Hồ Xuân Hương).

Trong phần thứ nhất "Cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương", ngoài kế thừa những nghiên cứu trước, điểm mới của cuốn sách là tác giả đã cập nhật những tư liệu mới xung quanh cuộc đời "Bà chúa thơ Nôm".

Trước đây, các nhà nghiên cứu chủ yếu luận đoán cuộc đời Xuân Hương qua văn thơ của bà. Không ít người còn đặt sự nghi vấn rằng Hồ Xuân Hương là nhân vật có thật hay huyền thoại? Nhà thơ Xuân Diệu từng băn khoăn: "Chúng ta nay rất tức tối và đau đớn, đứng trước tình cảnh không biết ngày sinh, tháng đẻ, năm mất của một thi hào như Xuân Hương...". Nhà thơ Hoàng Trung Thông cảm thấy sự mơ hồ, huyền thoại xung quanh cuộc đời nữ sĩ: "Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương/ Nhưng người đó là ai"... Đến cuốn sách này, PGS.TS Vũ Nho đã góp phần làm sáng tỏ nhiều điểm mờ dựa trên nhiều nguồn tư liệu, trong đó có "Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương" (NXB Hồng Đức, 2021) của nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng.

Từ trước đến nay, phần tiểu sử Hồ Xuân Hương viết rất sơ lược, thiếu thống nhất, chồng chéo, mâu thuẫn. Cha của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Phi Diễn, hay Hồ Sĩ Danh có hai luồng ý kiến. Dựa theo tài liệu đã được họ Hồ xác nhận thì Hồ Sĩ Danh chỉ dạy học ở quê, không đi ra Bắc, nên không có chuyện lấy vợ lẽ. Tác giả Vũ Nho đồng tình ý kiến này, bác bỏ cha là Hồ Xuân Hương là Hồ Sĩ Danh...

Hồ Xuân Hương từ nguồn tư liệu mới -0
Bìa tập sách “Hồ Xuân Hương - Đời và Thơ” của Vũ Nho.

Năm sinh, năm mất của bà cũng có nhiều phỏng đoán. Ngay những người viết về Hồ Xuân Hương sớm như: Nguyễn Hữu Tiến (1916), Dương Quảng Hàm (1925), Nguyễn Văn Ngọc (1927), Hoa Bằng (1950)... không ghi rõ năm sinh, năm mất mà thường ghi chung chung cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn.

Bộ "Hợp tuyển Thơ văn Việt Nam thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX" (1963) cũng không xác định rõ "Bà sinh và mất năm nào, chỉ biết bà sống vào thời kỳ tàn cuộc của Lê và Trịnh, thời hưng thịnh và suy vong của Tây Sơn và buổi đầu của triều Nguyễn, có thể đến thời Minh Mệnh". GS Hoàng Xuân Hãn cho rằng "Nếu ta cho rằng trẻ dưới 30 thì phải nhận rằng nàng sinh 1777 khi cha nàng đã quá 74. Sự ấy khó là sự thực. Còn nếu nhận như tôi đã đề nghị từ đầu, nàng sinh khi cha 70 tuổi, nghĩa là vào năm 1773".

Trước Nghiêm Thị Hằng có 4 mốc năm sinh của nữ sĩ họ Hồ (1755, 1770, 1772 và 1815). Dựa theo Hồ tông thế phả, năm sinh của Hồ Xuân Hương chỉ có thể là năm 1770 hoặc 1772. Nhưng 2 năm trên không có Đào hoa chính ngọ. Nên Xuân Hương phải sinh vào năm 1773 (Quý Tỵ) mới đúng với lá số tử vi được thầy Hoàng Văn Khôi lập.

Về sắc tài, tác giả Vũ Nho nghiêng về khẳng định Hồ Xuân Hương là người đàn bà đẹp, thông minh, một kỳ nữ có học vấn, được các danh sĩ nể phục. Có thể do suy luận theo Nguyễn Hữu Tiến - người viết về Xuân Hương sớm nhất "dáng điệu tầm thước, mặt hơi rỗ hoa, mà da hơi ngăm đen, không đẹp mà có duyên thầm", nên mới có cách miêu tả dung nhan Hồ Xuân Hương "là người xấu xí, đen đủi" (theo Hoa Bằng)...

Theo lá số tử vi, bà có sao Thiên Cơ "mặt trái xoan, trắng trẻo, mỏng mày hay hạt, xinh"; sao Thái âm chiếu mệnh bà là người "da trắng, thanh tú"; xét mệnh có sao Phượng Các, Tài Mệnh có sao Hoa Cái là "người có duyên"; cung Mệnh có sao Thái Tuế là người "biết ăn nói, có thiên hướng nghề dạy học" (trang 18). Điều đó được minh chứng trong tập "Lưu Hương ký", Tốn Phong đã hết lời ca ngợi: "Mười phần sắc xuân tới nước Nam" (Bài số 8), "Người tiên rạng rỡ hiện trên mây" (Bài số 130, "Như dáng cây mai xinh đến cốt/ Mười phân sắc xuân rạng lên trời" (Bài số 22)...

Xuân Hương là "người có học, thích giao du, đi ra ngoài là người nổi tiếng. Mệnh có Tứ linh, Phượng Các, Hoa Cái, Bạch Hổ, Long Trì là người phụ nữ tài hoa có trí tuệ, giỏi giang, có nhan sắc, tạo ra uy tín cho bản thân, là người có trách nhiệm. Ở cung Quan lộc, cung Phu thê chiếu lên có sao Thiên Đức (tức làm thầy) dụng nghiêng về văn chương, sáng tác" (Nghiêm Thị Hằng).

Về tình yêu, hôn nhân của nữ sĩ họ Hồ, kế thừa các nguồn tư liệu trước, PGS.TS Vũ Nho cập nhật nguồn tư liệu mới khẳng định Hồ Xuân Hương có hai lần lấy lẽ, đó là Chiêu Hổ Nguyễn Bình Kình và ông phủ Vĩnh Tường. Không đồng tình với gán ghép Chiêu Hổ là Phạm Đình Hổ như nhiều nghiên cứu trước đó, Vũ Nho đồng tình với cách luận giải, khẳng định Chiêu Hổ chính là Nguyễn Bình Kình (Tổng Cóc). Nguyễn Bình Kình cùng bạn đến chơi Cổ Nguyệt Đường được nữ sĩ ra vế đối:

Tối ba Mươi, khép cánh Càn Khôn, kẻo nữa Ma Vương đưa Quỷ tới

Nguyễn Bình Kình đối lại chuẩn chỉ về chữ nghĩa:

Sáng mùng Một mở then tạo hóa, để cho thiếu nữ rước xuân vào

Nể phục cách ứng đối tài hoa, chủ nhân Cổ Nguyệt Đường thường xuyên đón Nguyễn Bình Kình đàm đạo thơ phú. Quan hệ phải thân mật đến cỡ nào hai người mới có thể uống rượu, đùa ghẹo, gọi là "Anh đồ tỉnh, anh đồ say", tự xưng là "chị", trách sao dám "ghẹo nguyệt giữa ban ngày", với thái độ "Này này, chị bảo cho mà biết/ Chốn ấy hang hùm chớ mó tay". Cũng phải thân lắm mới lấy cớ "vay tiền" để rồi "Trách người quân tử hẹn sai ra", bởi hẹn "năm" mà chỉ "có ba" và dám mượn chuyện chú Cuội để trách một cách tinh tế "Nhớ hái cho xin nắm lá đa"...

Trước đây, nhiều tài liệu nghiên cứu, đưa vào nhà trường về Tổng Cóc chủ yếu vẫn theo Nguyễn Hữu Tiến rằng thua bạc mà chết rồi khẳng định "Xuân Hương than khóc và có thơ". Theo đó, nhiều nhà nghiên cứu gắn bài thơ "Khóc Tổng Cóc" với thái độ hả hê, mượn cách chơi chữ (cóc, bén, nòng nọc, chuộc) để chửi rủa, đay nghiến là không hợp với người tinh tế, yêu chữ nghĩa như bà chúa thơ Nôm. Vì thế, tác giả khẳng định bài thơ trên là khóc cho mối tình đã chết chứ không phải khóc cho người chết...

Hồ Xuân Hương làm lẽ lần thứ hai là ông phủ Vĩnh Tường. Theo tác giả, các cứ liệu về lần làm lẽ này không thống nhất, mâu thuẫn, thậm chí trái ngược. Xuân Hương kết hôn được ít lâu thì ông Phủ mất và bà có bài thơ khóc chồng: "Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi...". Tác giả nhận thấy việc Xuân Hương lấy ai trước: Tổng Cóc hay ông phủ Vĩnh Tường cũng không rõ ràng.

Theo nhà nghiên cứu Hoa Bằng năm 1950, ông phủ Vĩnh Tường vẫn chưa có tên. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ông Phạm Ngọc Khánh (2013), ông phủ Vĩnh Tường tên là Phạm Viết Ngạn. Trong ba ông phủ Vĩnh Tường thì đúng chỉ có ông Phạm Viết Ngạn có vợ lẽ là Xuân Hương, song tác giả Nghiêm Thị Hằng bác bỏ ông Phạm Viết Ngạn là ông phủ Vĩnh Tường và khẳng định Trần Phúc Hiển mới là ông phủ Vĩnh Tường...

Ngoài hai lần làm lẽ, Hồ Xuân Hương tiếp xúc, bầu bạn văn chương với nhiều "danh sĩ đương thời như: Phạm Quý Thích, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du, Mai Sơn Phủ, Tốn Phong, Trần Quang Tĩnh, Trần Phúc Hiển, Chí Hiên...", trong đó phải kể đến mối tình với Nguyễn Du...

Dựa trên tài liệu từ trước đến nay, tác giả lập niên biểu tóm tắt nữ sĩ Hồ Xuân Hương:

Hồ Xuân Hương là nhân vật có thật. Bà sinh ngày 30/8/1773 (13/7 Quý Tỵ), mất ngày 14/8/1822.

Khoảng 1788-1790: gặp gỡ với Nguyễn Du, làm 5 bài thơ "Mộc đắc thái liên" (Mơ được hái sen). Khi biết Nguyễn Du được thăng Đông Các học sĩ, chuẩn bị đi sứ, viết bài thơ "Cảm cựu kiêm trình cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu".

Khoảng 1800-1801: Gặp gỡ nhiều văn nhân, trong đó có Chiêu Hổ (Tổng Cóc); làm câu đối và 3 bài thơ "Trách Chiêu Hổ 1, 2, 3".

1804: Chủ động bỏ Tổng Cóc về Thăng Long; viết bài thơ "Khóc Tổng Cóc" - khóc cho một mối tình đã chết.

1814: Đầu năm, theo Trần Phúc Hiển đến Yên Quảng. Đến gần sở lỵ, Trần Phúc Hiển giữ ý, nên để Xuân Hương trở về Thăng Long.

1814: Gặp lại Tốn Phong, nhờ chàng viết tựa tập thơ "Lưu Hương ký".

1814-1816: Bà Hà Thị (mẹ nữ sĩ) mất năm 1814. Năm 1816 đoạn tang mẹ.

1816-1818: Kết duyên lần 2 với Trần Phúc Hiển; viết chùm thơ chữ Hán (5 bài) về Hạ Long.

1818: Trần Phúc Hiển bị tố tham nhũng kết án tử; năm 1819 chết ở quê Quảng Nam.

"Hồ Xuân Hương - Đời và Thơ" ra đời vào thời điểm ý nghĩa, nhân Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh các "Danh nhân văn hóa và sự kiện lịch sử niên khóa 2022 - 2023", trong đó có hai nhà thơ Việt Nam là Nguyễn Đình Chiểu và Hồ Xuân Hương. Cùng các nhà nghiên cứu, PGS.TS Vũ Nho đã góp thêm công trình nghiên cữu về nữ sĩ Xuân Hương - người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được UNESCO vinh danh nhân kỷ niệm 250 năm sinh và 200 năm mất của "Bà chúa thơ Nôm".

Lê Thị Bích Hồng   

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).