Hồ Xuân Hương: Tiếng thơ đối thoại với đời

Nghe, biết lắng nghe là cơ sở quan trọng của đối thoại. Nghe để thấu hiểu, thấu hiểu về nhau để thấu cảm lòng nhau nên không nghe thì không bao giờ có đối thoại...

Biết lắng nghe là cả một năng lực văn hóa, bởi về bản chất đấy là một quá trình tiếp nhận, do vậy phải có vốn sống, vốn tri thức, chính trị… để phân tích, tiếp nhận, loại bỏ, phản biện. Cho nên từ cổ xưa, người phương Đông sâu sắc dồn triết lý ấy vào con chữ tượng hình, chữ “Thính” trong tiếng Hán có nghĩa là “nghe” được cấu thành (chiết tự) bởi các chữ mang các ý nghĩa: Vương (coi người nghe mình như vua); Nhĩ (khi nghe phải lắng tai chăm chú); Nhãn (khi nghe phải nhìn người nói thể hiện sự chú ý, tôn trọng); Tâm (nghe bằng cả tâm trí); Nhất (cả người nói và người nghe phải đồng nhất, đồng hướng). Ngày nay, thế giới coi một biểu hiện của khoan dung hòa giải văn hóa là biết lắng nghe nhau!

Từ góc nhìn này ta thấy Xuân Hương là nhà thơ của thính giác. Bà đã chứng minh một quy luật nghệ thuật muốn làm một nhà thơ trước hết phải biết lắng nghe bước đi, sự thay đổi, dù nhỏ nhất của sự vật, từ đó mới có thể nắm bắt được bản chất cuộc sống. Với thi nhân, nghe là một biểu hiện của nhạy cảm nghệ thuật.

Cùng trong một tiếng tơ đồng/ Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm” (Nguyễn Du), cùng một tiếng khóc, với người khác có thể là nỗi ai oán vì sự mất mát, đau khổ nhưng với Xuân Hương lại nghe thấy đó là tiếng cười chua chát cho thân phận… Ham nghe, thơ bà rất nhạy cảm về thính giác: “Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ” để bước vào đối thoại với tính cách một thách thức mà khẳng định cá nhân mình: “Tài tử văn nhân ai đó tá?/ Thân này đâu đã chịu già tom” (Tự tình I).

“Thiếu nữ ngủ ngày” - minh họa thơ Hồ Xuân Hương.
“Thiếu nữ ngủ ngày” - minh họa thơ Hồ Xuân Hương.

Hai chữ “văng vẳng” tượng thanh không chỉ văng vẳng trong thơ bà mà còn văng vẳng cái đau khổ, cái bất lực ở thời ấy đến với cuộc đời hôm nay: “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom” (Tự tình I); “Canh khua văng vẳng trống canh dồn” (Tự tình II); “Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng” (Dỗ người đàn bà chết chồng); “Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì” (Bỡn bà lang khóc chồng)…

Rồi là biết bao nhiêu từ tượng thanh khác “rúc rích”, “vo ve”, “tỏm cắc”, “xì xòm”, “thánh thót”, “phất phơ”, “phập phòm”, “lõm bõm”, “lắc cắc”, “long bong”, “phì phạch”, “chũm chọe”, “hi ha”, “hu hơ”…và những bài gieo âm độc chẳng phải là sự gợi ra âm thanh phập phòm, trúc trắc đó sao: “chòm/ hom/ phòm/ bõm/ om/ dòm” (Hang Cắc Cớ), “phòm/ hom/ dòm/ khom/ dom” (Động Hương Tích); “heo/ leo/ kheo/ éo/ teo/ lèo” (Quán Khánh)…

Có nhiều bài được kiến tạo bằng một con đường chủ đạo là âm thanh, với Dệt cửi thì: “Con cò mấp máy suốt đêm thâu/ Hai chân đạp xuống năng năng nhắc/ Một suốt đâm ngang thích thích mau” vừa tượng hình vừa tượng thanh nhưng diễn ra trong đêm nên âm thanh mới tác động đến giác quan người nghe mạnh hơn.

Với Tát nước: “Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa”; có khi ngay tên bài đã thông báo âm thanh, như: Trống thủng; Khóc Tổng Cóc; Khóc ông phủ Vĩnh Tường; Dỗ người đàn bà chết chồng… Thậm chí có bài được âm thanh hóa từ sự vật vô thanh: “Mõ thảm không khua mà cũng cốc/ Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om” (Tự tình I), không phải mõ thật, chuông thật mà là chuông mõ trong tâm trạng cứ vang lên những tiếng thảm sầu. Đấy là Xuân Hương lắng nghe tiếng lòng mình cay đắng, để mà đối thoại với “thân” chưa chịu già!

Từ “ai” (hô ngữ) luôn ngầm ý nghĩa một sự hô ứng, đồng vọng mong muốn một sự sẻ chia ở một đối tượng cụ thể hoặc mơ hồ, xa xôi. “Ai” là khao khát, khắc khoải, chờ đợi, trao gửi, giãi bày... Ca dao có những câu tuyệt hay: “Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn vắt lên vai/ Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn chẳng tắt/ Mắt thương nhớ ai/ Mắt ngủ không yên…”.

Hồ Xuân Hương là nhà thơ của chữ “ai”, sử dụng nhiều nhất, đặc sắc nhất, đa dạng và giàu giá trị thẩm mỹ bậc nhất trong văn học trung đại, để rồi sau này “truyền nhân” cho Tú Xương với Áo bông che bạn: “Ai ơi có nhớ ai không/ Trời mưa một mảnh áo bông che đầu/ Nào ai có tiếc ai đâu/ Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô…” và Tản Đà có những chữ “ai” thấu cảm tình người: “Vì ai cho tớ phải lênh đênh/ Nặng lắm ai ơi một gánh tình”. Chữ “ai” như mạch nước ngầm thầm lặng mà thao thiết chảy vào thế giới tâm trạng những tri âm để tìm một đồng cảm, đồng vọng. Đấy chẳng phải là một biểu hiện của khát khao đối thoại sao?

Chữ “ai” trong thơ Xuân Hương là cả một thế giới nghĩa: “Giếng ấy thanh tân ai chẳng biết?/ Đố ai dám thả nạ dòng dòng” (Cái giếng) là ngầm một sự khẳng định, một sự thách thức. Cũng là “khen” thì “khen” trong “Bốn cột khen ai khéo khéo trồng” (Đánh đu) là khen thật, nhưng “Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo…/ Hiền nhân quân tử ai mà chẳng…” (Đèo Ba Dội) thì có khi ngược lại.

Đèo Ba Dội là tên gọi khác dân giã, thông tục của đèo Tam Điệp có ba dốc cao nên đi lại là sự leo trèo (cách dùng vần “eo” cũng là sự mô phỏng) vất vả, thế mà lại còn “khen ai” thì là sự ỡm ờ khó biết khen thật hay mỉa mai. Nhưng đến cuối bài thơ cái nghĩa mới ló ra, đằng sau “đèo” là một sự vật khác thì “ai”, “Hiền nhân quân tử ai mà chẳng” là một sự giễu cợt: hiền nhân quân tử ai cũng thế mà thôi, dù “Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo?”.

Cùng nét nghĩa giễu cợt hàm một chút mỉa mai là nhiều “ai khác”: “Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc” (Hang Cắc Cớ); “Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm” (Động Hương Tích); “Trưa trật nào ai móc kẽ rêu” (Chùa Quán Sứ); “Đố ai biết được vông hay trốc” (Vịnh nữ vô âm)… Chính từ chữ “ai” này mà ta có đủ cơ sở để xác quyết rằng giễu cợt mỉa mai là một nét nghĩa chủ đạo trong thơ bà.

Hồ Xuân Hương là một thi sĩ tài hoa.
Hồ Xuân Hương là một thi sĩ tài hoa.

“Kìa cái diều ai nó lộn lèo!” (Quán Khánh) thì là sự ngạc nhiên ngầm một sự hả hê: cái diều ai chơi (chắc là kẻ “hiền nhân quân tử” nào đó) bị “đứt dây” hay bị “gập” vì gió mạnh mà “lộn lèo”. Nhất là cái diều này lại “buông” ở nơi Quán Khánh chẳng có gì là đẹp với cảnh hắt heo, thiên thẹo, cheo leo, khẳng kheo, uốn éo, leo teo.

“Nào ai có biết nỗi bưng bồng?” (Kẽm Trống); “Nhắn nhủ ai về thương lấy với/ Thịt da ai cũng thế mà thôi” (Trống thủng) là ngầm một sự mong muốn chia sẻ. “Tài tử văn nhân ai đó tá?” (Tự tình) là ngầm mong một đồng vọng, tri âm. “Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ?” (Cảnh thu) là ngầm một sự đồng tình. “Năm canh lơ lửng chờ ai đó?” (Hỏi trăng), một sự trông mong chờ đợi. “Ai về nhắn nhủ đàn em bé” (Dỗ người đàn bà chết chồng), một sự trông chờ, hy vọng. “Hỡi người bẻ quế rằng ai đó” (Trăng thu), một bâng khuâng trống vắng. “Hỡi chị em ơi ai biết không?” (Phận đàn bà) là một giãi bày chua chát. “Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ?” (Bỡn bà lang khóc chồng) đầy hẫng hụt đau đớn. “Ai về nhắn nhủ phường lòi tói” (Mắng học trò dốt II) lại là mong có được một sự hiểu biết, thẳng thắn, chính trực. Cầm lái mặc ai lăm đổ bến…/ Ấy ai thăm ván cam lòng vậy” (Tự tình III) lại là một sự bất lực…

Những chữ “ai” ấy là biến thể của những tâm trạng khát khao được đồng cảm, sẻ chia trong một thế giới hầu như ngưng đọng, tù hãm, mất tự do. Như những bàn tay chìa ra mong được bắt lấy những bàn tay đồng điệu, đồng cảm mà chẳng có, chẳng được đành rút về ngậm ngùi, bất lực, những chữ “ai” của Xuân Hương là một chứng minh cho bi kịch lớn nhất của nhà thơ là sự khát khao được đối thoại mà không được hồi đáp. Khát khao vẫn chỉ là khát khao nên càng đau, càng muốn giãi bày. Vẫn không có lời đồng vọng,…

Con người và tài năng Xuân Hương, những sắc thái tâm trạng của thi sỹ thiên tài Xuân Hương thể hiện rõ nhất trong chùm thơ tự tình. Tất cả lại dồn tụ trong một Mời trầu độc đáo, đặc sắc: “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi/ Này của Xuân Hương mới quệt rồi/ Có phải duyên nhau thì thắm lại/ Đừng xanh như lá bạc như vôi”.

Mời trầu nói với mình cũng là nói với người, với đời, với số phận, là lời mời cũng là lời than, lời trách, lời khuyên răn, lời giận… có cả chua chát ngậm ngùi, cả tin tưởng, hy vọng, cả sự khẳng định… Mời trầu đích thực là đa thoại, đa âm, đa thanh, đa nghĩa. Mời trầu như một tòa lâu đài ngôn ngữ kết cấu tối giản xây cất trên nền móng vững chắc phong tục tập quán chứa chan hy vọng những điều tốt lành của văn hóa Việt, lại có nhiều cửa những cách hiểu để mời gọi những tri âm.

Vượt lên trên mọi đối thoại tiếng thơ Xuân Hương còn đối thoại với thời thế trở thành tiếng nói mang tầm thời đại kêu gọi giải phóng cá tính, giải phóng phụ nữ. Thế nên ở thời ấy và suốt thời phong kiến, thơ Xuân Hương như tiếng sấm đột ngột giữa trời quang vậy.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).