Hò khoan Lệ Thủy, Quảng Bình, thêm một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Tính phổ biến dân dã là đặc biệt rộng lớn, hầu như người dân Lệ Thủy nào cũng biết hò hoặc ít nhất là xố theo các mái hò quen thuộc. Khả năng tiếp thu, đồng hóa trong giao lưu của Hò khoan là rất lớn. Những phẩm chất đẹp đẽ của dân ca Bình Trị Thiên sẵn sàng được chuyển hóa một cách nhuần nhị và tạo nên sắc thái của Hò khoan Lệ Thủy. Đây là một minh chứng về cốt cách vững bền và mạnh mẽ của dân ca này...

I. Ngày 8-5-2017, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã ký quyết định công nhận Hò khoan Lệ Thủy là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Đây là điều mà nhân dân Quảng Bình nói chung và nhân dân Lệ Thủy nói riêng mong đợi bấy lâu. Trong những ngày Tháng Tám này. Khắp các câu lạc bộ, trường học… các nghệ nhân, học sinh đều khẩn trương luyện tập của cho Lễ đón nhận và vinh danh Hò khoan Lệ Thủy sẽ được tổ chức vào ngày 31-8-2017 gắn liền với Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Kiến Giang dịp Quốc khánh 2-9 hằng năm.

Mảnh đất Lệ Thủy được hình thành vào thế kỷ XI dưới triều đại nhà Lý trong công cuộc mở cõi quốc gia Đại Việt ngày càng rộng lớn. Đến đời Trần, nơi đây đã là nơi tụ cư đông đúc và phồn vinh của người Việt. Phật hoàng Trần Nhân Tông trong cuộc du hóa phương Nam năm 1301 đã lập am Tri Kiến bên dòng Kiến Giang để quảng hoằng Phật pháp.

Dương Văn An (1514-1591), quê ở thôn Tuy Lộc (Lệ Thủy) – người đã viết Ô Châu cận lục (1553), một cuốn địa lý văn hóa lịch sử thuộc loại đầu tiên của vùng Ô Lý - đã cho chúng ta thấy muôn mặt của đời sống cư dân nơi đây. Đặc biệt ông đã cung cấp cho chúng ta sự phổ biến của các lễ hội đua thuyền, đưa linh chèo cạn, ca bài chòi… những sinh hoạt văn nghệ dân gian đến nay vẫn còn lưu giữ trong sinh hoạt hát Hò khoan. Ông còn viết thổ âm vùng này cũng giống như thổ âm vùng Hoan Ái. Thổ âm là chất liệu hàng đầu làm nên đặc sắc của dân ca, điều này chứng tỏ mối quan hệ của văn nghệ dân gian của vùng Thanh - Nghệ với Hò khoan nơi đây.

Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào Nam mở cơ đồ chúa Nguyễn, đóng dinh gần 10 năm ở Ái Tử (Quảng Trị), chính mảnh đất này đã là nơi cung cấp chủ yếu nhân tài vật lực cho sự nghiệp đó. Trong đó, chắc chắn có ảnh hưởng của dân nhạc từ đây tràn vào phía trong.

Chúa Nguyễn Phúc Chu - đời chúa thứ 6 - đã tặng chùa Hoằng Phúc nơi đây đại tự mang 4 chữ “Vô song phúc địa” thừa nhận mảnh đất này là tiền tiêu của chính quyền Đàng Trong.

Hò khoan Lệ Thủy Quảng Bình giao lưu với Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh trên sân khấu ca nhạc.
Hò khoan Lệ Thủy Quảng Bình giao lưu với Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh trên sân khấu ca nhạc.

Năm 1802, Nhà Nguyễn được nước, đóng đô tại Thuận Hóa, xây dựng nền văn hóa cung đình tụ hội những tinh hoa dân gian đến bác học. Văn hóa cung đình lại có dịp tỏa rộng ra chốn dân gian. Chắc chắn thời gian này, Hò khoan Lệ Thủy đã tiếp thu những tinh hoa văn hóa đó để làm phong phú các lối mái của chính mình. Tổng thể các mái hò dần dần được định hình và mang sắc thái địa phương một cách rõ rệt. Có thể nói, thời Nguyễn là thời gian bừng nở và ổn định hệ thống Hò khoan Lệ Thủy.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, Hò khoan Lệ Thủy mang một sứ mệnh mới: Tuyên truyền yêu nước chống Pháp. Những giai thoại của nhiều nghệ nhân yêu nước đối đáp đấu tranh với quân giặc còn lưu truyền đến ngày nay.

Cách mạng Tháng Tám thành công và sau đó là 9 năm kháng chiến trường kỳ, Hò khoan Lệ Thủy xứng đáng là một vũ khí tham gia kháng chiến kiến quốc thành công. Mảnh đất nơi đây mang danh Bình Trị Thiên khói lửa, Hò khoan Lệ Thủy ngân vang tiếng hát cùng dân ca Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế trong mối giao hòa nghệ thuật.

Sau Hiệp định Geneva 1954, đất nước tạm chia làm hai miền, cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt. Đất Quảng Bình lại được mệnh danh là tuyến lửa. Đoàn văn công Bình Trị Thiên được thành lập nơi đây mà thành phần chủ yếu là những trai thanh gái lịch Quảng Bình mang đậm trong lòng truyền thống dân ca xứ sở. Hò khoan được từng bước sưu tầm, phát triển và trình diễn trong phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” cũng xuất phát từ nơi đây.

Sau chiến thắng Mùa Xuân 1975, đất nước bước vào thời kỳ hậu chiến gian khó nhưng tiếng hát Hò khoan vẫn phát triển phục vụ các nhiệm vụ xây dựng cuộc sống mới.

Công cuộc đổi mới không chỉ đưa đất nước phát triển về kinh tế mà văn học nghệ thuật cũng có những bước phát triển khởi sắc, phong phú. Hò khoan Lệ Thủy được các cấp chính quyền quan tâm và nhân dân gìn giữ.

Có thể nói, Hò khoan Lệ Thủy trong thời kỳ hiện đại hoàn toàn có thể tự hào rằng đã hoàn thành tốt nhất sứ mạng nghệ thuật, sứ mạng chính trị của một dân ca trước nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng quê hương, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

II. Trên thực trạng hiện nay về mặt dân nhạc, Hò khoan Lệ Thủy là một hệ thống gồm 9 mái hò chính. Mỗi mái là một làn điệu tự thân mang cấu trúc âm nhạc riêng dù nằm trong một tổng thể có quan hệ mật thiết với nhau. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tính đến một số làn điệu có mối quan hệ chặt chẽ như hát ru, kể vè… Bộ phận quan trọng nhất là các mái hò khu vực đồng bằng trung tâm: Mái dài, mái nhì, mái chè, mái ba, mái xắp, mái nện. Sáu mái hò này được diễn xướng phổ biến trong đời sống nông nghiệp và ở vùng sông nước đồng bằng. Bộ phận tiếp theo là mái hò Lĩa trâu ở vùng đồi núi. Bộ phận thứ ba là hai mái hò ở vùng biển: Hò khơi và Nậu xăm. Như vậy, quan sát tổng quan, đại đồng tiểu dị, ta có thể coi Hò khoan Lệ Thủy gồm 9 mái hò tách biệt.

Đua thuyền trên sông Kiến Giang.
Đua thuyền trên sông Kiến Giang.

Di sản Hò khoan Lệ Thủy được nhìn nhận như là một hệ thống riêng đóng góp những đặc sắc văn hóa của mình cho kho tàng dân ca nói chung. Những đặc sắc đó có thể nhận ra qua các phương diện sau:

Sự gắn bó còn tươi ròng của nó với đời sống thực tiễn, đời sống tinh thần của người lao động. Hầu như lĩnh vực lao động nào cũng có mặt Hò khoan: Đẵn gỗ, chèo thuyền, đi đường, đập đất, cày ruộng, cấy hái, thu hoạch, nện nền, cất nhà, đẩy đò, ra khơi, vào lộng, kéo lưới… Trong tổng thể dân ca các vùng miền không nơi đâu yếu tố hò lại tập trung đậm đặc như nơi đây.

Dù gắn với lao động trực tiếp nhưng tính chất trữ tình lại hoàn toàn nổi trội trong Hò khoan Lệ Thủy. Nhân dân gửi gắm vào đó tâm tư tình cảm, khát vọng, niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống.

Tính phổ biến dân dã là đặc biệt rộng lớn, hầu như người dân Lệ Thủy nào cũng biết hò hoặc ít nhất là xố theo các mái hò quen thuộc. Khả năng tiếp thu, đồng hóa trong giao lưu của Hò khoan là rất lớn. Những phẩm chất đẹp đẽ của dân ca Bình Trị Thiên sẵn sàng được chuyển hóa một cách nhuần nhị và tạo nên sắc thái của Hò khoan Lệ Thủy. Đây là một minh chứng về cốt cách vững bền và mạnh mẽ của dân ca này.

Tùy theo hoàn cảnh diễn xướng, phong cách diễn xướng mà Hò khoan Lệ Thủy rất uyển chuyển trong khả năng biểu hiện. Hơn nữa, từ trong truyền thống, tổ hợp các mái hò đã tự nhiên hình thành làm cho Hò khoan Lệ Thủy có một sự biểu hiện hết sức đa năng, không gò bó trong một khuôn sáo nhất định.

Trong thời kỳ hiện đại, Hò khoan Lệ Thủy mở rộng dung lượng để phản ánh được các vấn đề thực tế của đời sống là chính nhờ sự phong phú đó.

Hò khoan Lệ Thủy còn lại chất liệu âm nhạc thuận tiện cho việc sáng tác những ca khúc mới mang âm hưởng dân ca mà tác phẩm Quảng Bình quê ta ơi của nhạc sĩ Hoàng Vân là một minh chứng tiêu biểu nhất.

III. Sự công nhận ở cấp Quốc gia một di sản văn hóa phi vật thể bao hàm trách nhiệm của thể chế văn hóa về việc thấu hiểu, bảo lưu, phát triển và quảng bá di sản đó. Ý thức về những nhiệm vụ này từ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lệ Thủy lần thứ XXII (2010 - 2015) và lần thứ XXIII (2015 - 2020) đã nêu rõ nhiệm vụ bảo tồn, phát huy Hò khoan.

Các câu lạc bộ đã được thành lập, kiện toàn, phong trào hát Hò khoan trong nhà trường đã được phổ biến và tiến hành các cuộc thi hằng năm cho các cấp học. Với sự công nhận Di sản văn hóa, Hò khoan Lệ Thủy đang bước vào một giai đoạn phát triển mới đầy khởi sắc.

Hoa Khai

Các tin khác

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...

Dán nhãn độ tuổi cho MV: Khi “tấm biển cảnh báo” còn bỏ ngỏ

Dán nhãn độ tuổi cho MV: Khi “tấm biển cảnh báo” còn bỏ ngỏ

Nếu việc dán nhãn phân loại độ tuổi đã trở thành điều kiện bắt buộc với tác phẩm điện ảnh, xuất bản... trước khi đến tay công chúng thì ở lĩnh vực âm nhạc, tấm biển cảnh báo này gần như bỏ ngỏ. Thế nên không lạ khi làng nhạc liên tục vấp phải tranh cãi vì những MV có nội dung người lớn.