Hát xoan nhìn từ truyền thuyết, nhìn từ hôm nay

Về nguồn gốc thì hầu hết các truyền thuyết được văn bản hoá gần như thống nhất cho rằng Hát Xoan ra đời từ thời Vua Hùng. Ý nghĩa của vấn đề thì cần nhiều hướng, nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Truyền thuyết (1) phổ biến nhất (làng Phù Đức xã Kim Đức - Việt Trì) kể, từ thời Vua Hùng dựng nước, một ngày 13 tháng Chạp, ba anh em họ Hùng đi tìm nơi mở kinh đô qua thôn Phù Đức và An Thái thì dừng chân nghỉ trưa tại một khu rừng. Họ thấy một đám mục đồng chơi các trò đánh vật, kéo co và múa hát với lời ca và giai điệu vừa vui nhộn vừa tình tứ.

Ba người thấy thế bèn dạy thêm chúng một số lời và điệu mới. Từ đấy, hàng năm vào ngày này, dân làng làm bánh nẳng (cúng buổi trưa) và mổ bò làm thịt (cúng buổi chiều) để tưởng nhớ công lao các Vua Hùng. Vào ngày mùng 2 và 3 tháng giêng, dân làng mở hội cầu Đức Thánh Cả (Vua Hùng thứ Nhất) mong được "Dân khang, vật thịnh, mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt". Trong hội chủ yếu là diễn lại cảnh hát xướng minh họa các điệu ca lời múa Vua Hùng đã dạy.

Truyền thuyết (2) kể (ở làng Cao Mại - Lâm Thao) vào cữ xuân, vợ Vua Hùng mang thai tới kỳ "mãn nguyệt khai hoa" mà chưa đẻ được. Một hầu nữ hiến kế: Mời nàng Quế Hoa xinh đẹp, hát hay, múa giỏi về "biểu diễn" có thể làm đỡ đau và dễ đẻ.

Hát múa điệu "Mời rượu".
Hát múa điệu "Mời rượu".

Quả nhiên được xem/nghe những lời hát mới lạ, những điệu múa mê hoặc, vợ Vua Hùng như quên đau mà sinh hạ một lúc ba người con trai. Vua Hùng vui mừng khôn xiết hết lời khen ngợi Quế Hoa và truyền các mỵ nương (con gái) học các điệu múa hát ấy, vua gọi là Hát Xuân. Về sau kiêng tên huý của một người con gái Vua Hùng có tên Xuân Nương mà gọi chệch là Hát Xoan.

Một truyền thuyết khác (3) kể (cũng ở làng Cao Mại): Công chúa Nguyệt Cư (con Vua Hùng) từ lúc lọt lòng mẹ cứ khóc hoài mà không ai dỗ được. Đến năm ba tuổi, một hôm được nghe dân làng An Thái hát thì công chúa tự nhiên hết khóc. Đến khi lấy chồng có thai đã lâu nhưng khi đi nghe Hát Xoan thì chuyển dạ. Những người hầu phải chạy thật nhanh về cung để kịp sinh. Từ đó làng Cao Mại có tục "chạy kiệu" trong hội Hát Xoan...

Truyền thuyết (4) ở làng Hương Nộn (Tam Nông) kể nữ tướng Xuân Nương cùng Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đuổi quân nhà Hán. Một lần vào dịp xuân dẫn quân qua làng Hương Nộn thấy điệu múa lạ, lời hát hay Bà bèn cho quân lính học. Từ đó để tưởng nhớ người anh hùng có công với nước, làng tổ chức Hát Xuân. Vì tên bà là Xuân Nương nên đổi chệch là Hát Xoan.

Gần gũi với các truyền thuyết Hát Xoan trên là truyền thuyết về "Bách nghệ khôi hài" (một trăm trò vui) kể: Mỵ nương Ngọc Hoa lấy Sơn Tinh ở trên núi Tản một lần về thăm bố mẹ ở  Phong Châu. Nàng ở ba năm mà vẫn chưa muốn về. Tản Viên phải xuống đón. Vợ chồng về tới làng Trẹo thì nàng không chịu đi nữa. Tản Viên bèn vào trong thôn tìm người khuyên giải. Người làng thấy thế bèn bày các trò vui (có cả Hát Xoan). Công chúa múa hát theo, mọi người bèn rước Ngọc Hoa lên kiệu.

Có truyền thuyết nói người sáng tạo ra hát Xoan có tên Lê Thị Xuân Nương nên người đời sau kỵ tên huý mà gọi là Hát Xoan.

Có truyện kể có người vợ Vua Hùng tên Xuân Nương nên gọi chệch là Hát Xoan.

Từ những truyền thuyết trên có thể khẳng định thời điểm ra đời của Hát Xoan có từ thời Hùng Vương, gắn liền mảnh đất cổ Phong Châu (Phú Thọ). Các truyền thuyết đều xuất phát từ vùng đất cổ này (Việt Trì, Lâm Thao, Tam Nông, Tản Viên…).

Ở truyền thuyết (1) có chi tiết đáng chú ý là "dân làng làm bánh nẳng" và "cúng vào buổi trưa". Bánh nẳng còn gọi là bánh gio, bánh tro, bánh ú làm bằng cách ngâm gạo (nếp) vào nước tro (đốt lá cây tre, lá tranh, lá dược liệu… lấy tro ngâm vào nước, còn gọi là nước nẳng) rồi gói lá đem luộc chín. Có lẽ vì thiếu muối nên đây là cách lấy muối từ tự nhiên nhờ chất muối khoáng từ tro ngấm vào gạo. Thế nên làm bánh nẳng không được cho gia vị là có ý nghĩa ấy. Còn "cúng vào buổi trưa" là cũng rõ cái ý: giữa trưa, do hoạt động nhiều nên cơ thể cần muối hơn.

Căn cứ vào nhạc điệu và lối xen chữ (đang 5,7 chữ lại có 6 chữ) vào khổ hát mà có ý kiến cho rằng Hát Xoan ra đời từ thế kỷ XV vì giống với thơ thời Nguyễn Trãi và thơ trong "Hồng Đức quốc âm thi tập" của Lê Thánh Tông. 

Có lẽ nên nhìn nhận vấn đề coi văn hoá như một dòng chảy trong quá trình tiếp biến, trao truyền từ đời trước sang đời sau. Nếu vậy có thể hình dung dòng Hát Xoan có từ thời Hùng Vương chảy đến thế kỷ XV được nhận thêm phù sa văn hoá từ thơ ca nên mang một màu sắc khác, một dáng vẻ khác. Thậm chí chảy đến thế kỷ XVI, XVII… thì tạo ra các chi lưu mới như Hát nói, Hát Quan họ…!?

Tại sao nhiều truyền thuyết gắn liền với việc sinh đẻ?

Dân số thời Hùng Vương chỉ khoảng 40,50 vạn mà nước Văn Lang đã phải đối phó với nhiều kẻ thù, lắm thiên tai nên rất cần nhân lực. Do vậy việc sinh đẻ rất được coi trọng. Nhưng "người chửa cửa mả" (tức gần với cái chết) nên con người càng quý (câu tục ngữ "Người ta là hoa đất" chắc có từ rất sớm). Nếu người phụ nữ sinh ra một con người, một sinh mệnh mới thì Hát Xoan tái sinh con người, tạo ra một con người mới lớn lao, trưởng thành hơn về tâm hồn, về tình cảm, tinh thần. Chi tiết nhờ xem múa hát mà đẻ được vừa gắn Hát Xoan với niềm vui lớn nhất của con người nhưng cái chính là ca ngợi sức chinh phục, thu phục, thuyết phục của Hát Xoan. Hay đến nỗi quên cả đau đẻ, đến mức đứa trẻ đang khóc cũng nín!

Trước đây mỗi năm có 3 cuộc Hát Xoan được tổ chức vào ngày mồng 3 tháng Giêng; mồng 10 tháng 3 (ngày giỗ Vua Hùng) và mồng 10 tháng 9 (lễ thờ Vua Hùng). Xoan cổ có 14 làn điệu (quả cách) mở đầu là "Mời vua" (hát tràng mai) rồi mới đến "rãy cách", "ngâm cách"… "cài huê cách". Mỗi làn điệu có kép (nam) và đào (nữ), chỉ với hai nhạc cụ chính là trống và phách.

Mở đầu là trống và phách rồi đến đào hát kết hợp với tay múa, chân nhón, mắt hướng vào Thượng cung. Tất cả đều được diễn xướng nhịp nhàng. Trang phục truyền thống là áo tứ thân màu sậm, váy đụp và chít khăn mỏ quạ…

Hát múa điệu "Mò cá".Hát múa điệu "Mò cá".
Hát múa điệu "Mò cá".Hát múa điệu "Mò cá".

Vì là ca hát tập thể, người đông, không gian rộng nên hát phải vang. Phải mềm mai, uyển chuyển, âm phải liền nhau, trường hơi để ngâm nga trong lời mang tính ngâm ngợi nên phải rền. Phải giọng khoẻ, trong, nền nã… Các cụ ta vẫn khuôn vào công thức: vang, rền, nền, nẩy. Như vậy có thể xếp Hát Xoan vào loại hình tổng hợp gắn bó mật thiết thơ, nhạc, múa, hoạ (màu sắc trang phục). Theo Giáo sư âm nhạc dân tộc học Trần Quang Hải, trong các thể hát của Việt Nam thì Quan Họ, Cò Lả, Trống Quân, dựa trên thang âm ngũ cung. Còn Hát Xoan có cả thang âm tam cung, tứ cung và ngũ cung.

Điệu nhạc tam cung, rất cổ, có thể là âm nhạc thời các Vua Hùng. Hát Xoan có hát, múa, thơ và có tiết tấu. Ở trong các "điệu" khác thì không có đủ hết những cái đó. Như trong Nhạc cung đình, chỉ có nhạc và múa, không có hát, đối đáp. Trong Quan Họ, chỉ có hát đối, hát đáp mà không có tiết tấu. Trong Ca Trù, chỉ có hát, đờn mà không có múa. Nhận định của Giáo sư càng cho thấy Hát Xoan ra đời từ rất sớm, đa dạng về loại hình.

Tính chất nguyên thuỷ của Hát Xoan còn giữ lại khá nhiều. Có thể là vì thời Vua Hùng tầng lớp phong kiến chưa thể hiện rõ vai trò quyền uy với những luật lệ, tín điều hà khắc. Đặc tính của văn hoá là rất mềm dẻo và linh hoạt nên sau này các chế độ phong kiến rất khó thay đổi, chỉnh sửa. Nhờ thế mà nội dung và hình thức của Hát Xoan phóng khoáng, dân chủ, bình đẳng và bình dân hơn nhiều các loại hình nghệ thuật khác.

Kết lại bài viết xin chứng minh lời ca giống nhau về nội dung của dân ca Quan Họ Bắc Ninh và Hát Xoan Phú Thọ.

Một làn "Mời rượu" của Hát Xoan: "Tay nâng chén muối (ối a) ố mấy gừng (gừng đĩa gừng)/ ố mấy rằng gừng cay, gừng cay muối mặn/ (ối a) ố mấy đừng (đừng xin đừng) xin đừng quên nhau (ố mấy ru tình ru, ố mấy ta ru hời)…".

Một lời hát của Quan họ Bắc Ninh: "Tay nâng đĩa muối i ì í i i í đĩa í i gừng/ ố rằng gừng cay í i, gừng cay muối mặn i ì í i i í/ xin í i đừng, xin đừng quên nhau i ru i ì hời...".

Thời Vua Hùng có tục lấy nắm đất và gói muối làm vật tượng trưng cho hôn nhân. Rất có thể "Mời rượu" của Hát Xoan có trước lời hát Quan Họ. Quan Họ cũng chịu ảnh hưởng từ Hát Xoan?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...