Hang ổ của bóng tối

Trong thơ, hang ổ của bóng tối là chỗ chỉ có cảm giác, thuần cảm giác với cảm giác, ngự trị. Vào thơ, đôi khi là vào khám phá sào huyệt của bóng tối bằng sự buông thả tất cả mọi giác quan.

(Những trích dẫn trong bài là từ thơ của Nguyễn Phúc Lộc Thành, chúng không phải công cụ, chúng có mặt bởi không thể vắng mặt, vì thế chúng khước từ mọi đòi hỏi lí tính).

Bóng tối, linh thể duy nhất chứng kiến sự khởi nguồn và lụi tàn của các thế giới. Bóng tối đứng ngoài mọi giới hạn, hang ổ của nó giăng khắp nơi, không ngoại trừ thơ.

Trong thơ, hang ổ của bóng tối là chỗ chỉ có cảm giác, thuần cảm giác với cảm giác, ngự trị. Vào thơ, đôi khi là vào khám phá sào huyệt của bóng tối bằng sự buông thả tất cả mọi giác quan.

"Bện trời/ vào mấy sợi câm/ Bện tôi mấy sợi/ phù vân vào chiều".

Những câu thơ cảm giác chỉ gọi mời những tiếp nhận thuộc về cảm giác. Trước hang ổ bóng tối, lí tính dừng lại, không sấn tới được, dù bản chất của nó là suồng sã, bặm trợn và luôn tìm cách khuynh loát thế giới.

Chẳng sự phân tích lí tính nào có thể làm hiện hình chính xác hang ổ bóng tối, ngược lại, thậm chí còn làm cho nó trở nên méo mó, xa lạ.

Độ thẳm sâu khiếp đảm của thơ nằm ở hang ổ bóng tối, và "loài thi sĩ" (chữ của một thi nhân bị hủi), thăng lên chói lói hay chìm đắm thê thảm cũng từ chính cái hang ổ ấy. Tính ma mị, quỷ khốc của thơ sinh sôi, nảy nở cũng ở đấy. Có bóng tối, thơ chứa vẻ uy nghi rợn ngợp của vũ trụ và chứa sự bí ẩn sinh động của cơ thể sống.

"Em đi / tiếng nắng như tà/ Tiếng mưa âm quỷ/ cứ đà đà ngân".

"Mẹ nằm/ mặc cả thiên thu/ Tôi cùng rơm rạ/ hoang vu một bầy".

Bóng tối, thứ đánh nhịp cho những bước đi ngoạn mục và mạo hiểm nhất để con người đích thị là con người, để thế gian đích thị là thế gian. Thiếu chiếc áo lãng mạn kỳ bí của bóng tối, con người chỉ là động vật trụi trần. Những vì sao sáng nhờ bóng tối, và mặt trăng, cái khối tròn đầy nghi vấn về nguồn gốc kia, sẽ chẳng biết để làm gì nếu không được bóng tối nôn nao vây bọc. Giữa ánh sáng, cây là cây, không xa lạ, không nhân rộng, thế nhưng một cái cây nhúng vào bóng tối, lập tức là thế giới khác, là linh thể. Trong bóng tối, ngôn ngữ là ngôn ngữ khác và những va chạm dù của bất cứ vật chất nào cũng trở thành va chạm giữa da thịt với da thịt.

Nhờ bóng tối mà những "xác mấy ngọn đồi",  những "lũ gió", "lũ mây", những "chồi biếc câm", những "địa đàng thịt da", "nước mắt thùa thêu", và những "quành quạnh rơi" mới xuất hiện, tồn tại để rồi trở thành chính cõi lòng của bóng tối.

"Đêm nay/ gió núi khoả thân/Tôi đi tìm lũ/ mầm xuân lạc chồi".

Thơ sẽ chạm tới kích thước của bản nguyên hoang sơ khi nó có bóng tối bên trong. Hết bóng tối, thơ chỉ là vần điệu và kỹ thuật cộng với một chút mướt mát, vậy thôi, không hơn.

Bóng tối, thứ lẩn quất giữa những câu chữ, những hình ảnh, những trạng thái, nó kết dính mọi thứ và là bản mệnh của thơ. Chính bóng tối khiến thơ không phải là văn xuôi và văn xuôi mãi mãi không thể hoá thơ. Nói cách khác, bóng tối là dưỡng chất bảo đảm tính bền vững cho thơ nhưng có thể trở thành chất kịch độc khiến văn xuôi quỵ bại.

Bản chất của ánh sáng là vận động, luôn phải nỗ lực, trong khi bóng tối ở một chỗ nhưng lại bao trùm, vì thế xét cho cùng bóng tối chính là đích mà ánh sáng vươn tới. Thơ không có đích, nó chính là đích. Thơ không phản ánh đời sống, nó chính là đời sống. Văn xuôi không dung chứa nổi thế gian, nhưng thơ thì đã bao hàm cả thế gian trong đó, đơn giản vì nó có bóng tối.

"Tôi cơn bão đói bời bời/ Tháng ba ngày tám em vời vợi thơm".

Không nhân nhượng, càng không sòng phẳng, bóng tối có luật lệ riêng, ngoài mọi luật lệ thường tình, bởi thế chẳng có chỗ cho đúng sai. "Gieo chiều xuống ruộng phù vân" là hiển nhiên, "vết sẹo mùa ấy/ đã thanh tân rồi" là hiển nhiên, hiển nhiên cả "khoảng mênh mông ấy/ cứ bần bật run".

 Bởi bóng tối vô sắc nên thơ mãi mãi là thơ, với tất cả những gì ngạo nghễ nhất.

"Mưa như kinh kệ gào gầm/ trời như khóc tận xa xăm khóc về".

Cá nhân con người, với thân phận mong manh đầy xước xát của nó, ngẫm ra, cũng chỉ là một hạt mưa được bóng tối liên kết với các hạt mưa khác để kéo dài thêm ý nghĩa. Nhưng trên lộ trình của mình, mỗi hạt mưa mong manh kia sẽ cố gắng để lại dấu vết như một di ngôn thiêng liêng.

"Chiều đi cun cút/ một người/ Gót giày/ giấu một/ đoá cười nhân gian".

Không có hang ổ bóng tối, chắc chắn không có những nụ cười bí ẩn vô tiền khoáng hậu.

Nguyễn Bình Phương

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.