Hà Quảng: “Đến với thơ đương đại”

Nhà thơ, nhà phê bình, Nhà giáo Ưu tú Hà Quảng vừa gửi tặng tôi tập “Đến với thơ đương đại” . Đây là tập lý luận phê bình viết khá công phu, tâm huyết của một nhà giáo đã gắn bó với văn chương mấy chục năm qua.   

Nhiều nhận định của ông trong tập sách tôi nghĩ là chuẩn xác: “Nhìn chung các khuynh hướng đổi mới của nghệ thuật đương đại nói chung và văn chương nói riêng đều nghiêng về phương Tây, khác các cụ ta ngày xưa hướng về phương Bắc... Nhưng càng gần đến thế giới hiện đại thì tư duy phương Đông (chủ toàn) lại tìm được thế cân bằng với phương Tây...”.

Tôi đã có lần đi dự hội sách ở Thụy Điển và thấy thơ Đường và thơ cổ điển Việt Nam của các tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương... rất được độc giả chú ý. Osho với “Bát nhã tâm kinh” được độc giả phương Tây tìm đọc rất nhiều, cũng như nhiều tác phẩm của thiền sư Thích Nhất Hạnh ở xứ ta...

Không hiểu sao tôi rất tâm đắc với Lão Tử, tuy cũng thích nhiều nhà triết học phương Tây. Nhưng Lão Tử của phương Đông đã trở thành minh triết trên 2.500 năm và sẽ còn mãi, tôi thiển nghĩ vậy.

Trong cuốn “Đến với thơ đương đại” của Hà Quảng có nhiều vấn đề như: "Thơ và sự đổi mới"; "Cách tân và phát triển các thể tài"; "Cách tân và các thủ pháp nghệ thuật"... Và một số nhà thơ Việt Nam đương đại mà tác giả cho là tiêu biểu như Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo, Lê Thái Sơn, Vũ Quần Phương, Lê Quốc Hán...

Nói về thơ đương đại, tôi tâm đắc và đồng tình với ông trong những nhận định về đổi mới thơ hiện nay như: “Nhiều người chỉ quan tâm đến cái mới của thơ trên phương diện sự tân kỳ của các yếu tố hình thức nghệ thuật. Thực ra cái mới của cảm xúc, của chiều sâu trí tuệ, của cách nhìn cuộc sống tạo nên cái mới của thơ chứ không phải là những mô-típ, những hình ảnh mô phỏng hoặc những biểu hiện có vẻ là lạ của hình thức nghệ thuật, của ngôn ngữ thi ca...”.

Cũng có thể nói, cái mới thực sự trong thơ ca cũng như trong nghệ thuật chính là tư tưởng mới, nhận thức mới, cảm nghĩ mới, cách thể hiện mới... Nếu con người sáng tạo ra cái mới vẫn là con người cũ trong nhận thức, trong mọi sự nhìn nhận cuộc sống thì không thể có cái mới trong nghệ thuật, trong thơ ca, bởi nói như Trương Trào trong “U mộng ảnh” (bản dịch của Nguyễn Hiến Lê): “Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ”. Nếu không có tài năng, không khổ đau, sống chết với nghệ thuật mà chỉ là sự làm mới bằng kỹ xảo ngôn từ thì cũng chỉ là “thuật giả kim hoàn” như người ta thường nói mà thôi.

Tác phẩm mới của nhà phê bình Hà Quảng.
Tác phẩm mới của nhà phê bình Hà Quảng.

Thơ ca cũng như mọi thứ trên đời này, nói là mới, thực sự mới, đều bao hàm tính sáng tạo, hoặc tạo ra cái mới hoặc tạo ra cách nhìn nhận mới, về hình thức cũng như nội dung. Sự sáng tạo ra cái mới thường qua thể nghiệm, thí nghiệm, bởi vậy đừng coi cái thử nghiệm, thể nghiệm là cái mới, tuy nó là con đường dẫn đến cái mới. Và nói như nhà phê bình, nhà thơ Hà Quảng: “Cái mới cần chú ý cái riêng của Việt Nam. Xóa nhòa hoặc quên điều này chúng tôi nghĩ tác phẩm sẽ không có sức sống”.

Dân gian có câu nói rất hay: "Thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào"! Mọi sự bắt chước, làm theo, mọi sự lai căng đẩy đến mức cực đoan dù là trong bất cứ lĩnh vực nào cuối cùng đều bị thời gian đào thải. Đó cũng là điều tác giả cuốn sách “Đến với thơ đương đại” muốn nói đến. “Cái mới của thơ nằm ngay trong quỹ đạo của sự thể hiện cái đẹp chân chính, chứ không là sự ham thanh chuộng lạ cực đoan, mà đồng điệu và cổ vũ cho sự cực đoan này là việc tâm trạng thơ, lắp ghép, đưa ra vô số những kiểu thơ với quy tắc ngữ pháp xa lạ với ngôn ngữ Việt Nam, những tín niệm triết, mỹ ngược với tâm lý, với đời sống Việt rồi khái quát thành tính hiện đại của Thơ”.

Những điều mà nhà phê bình Hà Quảng đưa ra trong cuốn sách, theo thiển nghĩ của tôi là cần thiết trong quá trình làm mới thơ hiện nay. Bởi, không ít người làm thơ ngộ nhận mình, tự cho mình là cách tân, là hiện đại hay hậu hiện đại gì đó bằng sự cực đoan, bằng cách coi thơ như một trò chơi ngôn từ và đẩy đến tận cùng trò chơi này, mà thực ra điều đó người ta đã làm từ lâu, ở nước ta cũng như trên thế giới.

Về những tác giả thơ mà nhà phê bình Hà Quảng đề cập đến trong tập sách, có hai nhà thơ tôi hiểu hơn cả vì họ là bạn học của tôi. Cố nhà thơ Lê Thái Sơn và nhà thơ Lê Quốc Hán. Lê Thái Sơn cùng học một lớp với tôi thời đại học (Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội), còn Lê Quốc Hán học cùng với tôi thời phổ thông (sau tôi một năm). Tôi thấy nhận định của nhà phê bình, Nhà giáo Ưu tú Hà Quảng là xác đáng. Về cố nhà thơ Lê Thái Sơn, ông viết: “Thơ Sơn không thuộc dạng rốt ráo câu chữ, xô bồ hình ảnh, triết lý xa xôi trong quỹ đạo hiện hành. Thơ anh chân thật như vắt ra từ tim, từ cõi lòng...”.

Thời học đại học, Lê Thái Sơn đã bị bệnh tim, cho đến trước khi qua đời, mỗi lần gặp nhau Sơn đều bảo “Mình sống được thế này là lãi rồi...”. Lê Thái Sơn sống chết vì thơ, yêu thơ hơn cả bản thân mình...

Viết về Tiến sỹ Toán học, nhà thơ Lê Quốc Hán, nhà thơ, nhà giáo Hà Quảng cho rằng: “Anh là nhà toán học, cũng là thi sỹ, nhưng điều đáng nói hơn cả hai phương diện sáng tạo đó của con người anh đều được hiển trưng dưới ánh sáng của đức tin ...”. Đọc những tập thơ của Lê Quốc Hán như “Lời khấn nguyện”; “Bến vô cùng”; “Mạc khải”; “Bất biến” ta càng thấy rõ hơn điều đó.

Tôi có một may mắn là thời học phổ thông được học với những người thầy như nhà thơ, nhà phê bình Hà Quảng, cố nhà thơ Xuân Hoài, nhà sử học Lê Văn Khánh (vừa mất)... Chúng tôi học dưới hầm, bằng ánh áng ngọn đền dầu, khi có máy bay, đèn dầu cũng phải tắt, học bằng ánh sáng con đom đóm và học trong tiếng gầm rít của máy bay phản lực, trong tiếng bom nổ xé trời... Những thầy giáo của chúng tôi thời đó cũng ở trọ, cũng sống trong khói lửa đạn bom, cũng đồng cam cộng khổ với học trò, chia nhau từng củ khoai, củ sắn... Các thầy giáo như thầy Hà Quảng không những dạy chúng tôi kiến thức mà còn dạy chúng tôi tình yêu văn chương, niềm say mê văn học, dạy chúng tôi làm người, làm người lương thiện. Nhiều học sinh thời đó đã ra trận, có người hy sinh, nhiều người đã trở thành những công dân có ích, ngay cả khi đang học phổ thông tôi đã chứng kiến những học sinh học cùng lớp với tôi không quản hiểm nguy lao mình đi cứu kho đạn, có người đã hy sinh tại chỗ như liệt sỹ Thìn...

Thời đó, tôi cũng có nhiều bài thơ được đăng trên Báo Thiếu niên Tiền phong, được đưa vào tuyển tập thơ thiếu nhi của Nhà xuất bản Kim Đồng cùng Trần Đăng Khoa, Cẩm Thơ, Đoàn Lam Luyến... Và, thầy Hà Quảng là người động viên, khuyết khích tôi nhiều nhất. Tôi nhớ, có lần thầy còn chép một bài thơ của tôi lên cái bảng đen treo dọc bờ hào giao thông dẫn vào lớp học, cái bảng đen thường thông báo cho học sinh những điều cần biết... Khi trông thấy nhiều thầy cô và học sinh cùng lớp đứng đọc bài thơ của mình, tôi không cầm được nước mắt vì vui sướng!

Tôi mạn phép viết ra những dòng này vì bây giờ, trên các phương tiện truyền thông đang nói về giáo dục hiện nay, có người cho là “thảm họa”. Tôi thiển nghĩ, giáo dục ở nước ta có một thời như thời chúng tôi học phổ thông rồi đại học đã thực sự là một nền giáo dục có hiệu quả, một nền giáo dục thực sự tiến bộ vì đã tạo nên một thế hệ biết làm người, làm công dân tốt, có nhiều cống hiến cho cộng đồng, xã hội...

“Đến với thơ hiện đại” cũng là con đường của một Nhà giáo Ưu tú, một nhà thơ, một nhà phê bình luôn đau đáu với văn chương nghệ thuật. Tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ của nhà thơ Hà Quảng trong bài “Trăng làng” đăng trên Báo Nhân dân cách đây mấy chục năm. Ông viết dưới hào giao thông, viết trong khói lửa chiến tranh mà trong sáng vô cùng: "Chập tối trăng theo về tận ngõ / Áo đẫm mồ hôi trăng mặc đầy...".

Trong ý nghĩ của tôi, đó cũng là một cách “Đến với thơ đương đại” của nhà thơ, nhà phê bình Hà Quảng.

Nhà vườn Sóc Sơn, 8-2017

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).