Hà Hồng Hạnh lần theo mùi hương ngày cũ

Trong thi ca Việt Nam, không thiếu những lần mùi hương trở thành ẩn dụ cho bản thể. Nguyễn Du viết: “hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình”. Đoàn Phú Tứ viết: “tình một thuở còn hương”. Quách Tấn viết: “mộng sớm tan rồi vẫn đắm hương”. Tuệ Sỹ viết: “màu nắng xế ôi màu hương tóc cũ”… Người thơ tin, khi một người ra đi, mùi hương là thứ sau cùng ở lại.

Đến lượt Hà Hồng Hạnh, với “Em lót thảm đợi anh” (NXB Hội Nhà văn, 2026), mời dụ người đọc đọc thơ bằng khứu giác - bằng những lớp mùi hương được khơi dậy từ những miền ký ức sâu nhất. Ở tập thơ này, mùi hương không chỉ là thi ảnh, mà còn là “bộ nhớ”, trở thành cấu trúc cảm xúc và phương thức tư duy của người thơ.

Mùi hương là cách Hà Hồng Hạnh hồi cố, là cơ chế vận hành ký ức trong thi giới của chị. Lần theo mùi hương ngày cũ tức là cách Hà Hồng Hạnh lần theo chính ký ức của mình: ký ức về tình yêu, về mẹ, về cha, về miền quê, về những mùa, những gió, những đêm không ngủ, những mất mát và những hiển lộ.

Hà Hồng Hạnh lần theo mùi hương ngày cũ -1
Nhà thơ Hà Hồng Hạnh.

Tình yêu - như hiện bày ở ngay tên tập thơ - là nguồn mạch cảm xúc chủ đạo của “Em lót thảm đợi anh”. Ở đây, tình yêu không thuộc thì hiện tại, mà thuộc thì quá khứ - một quá khứ vừa đã mất vừa chưa thể hoàn tất. Thơ trong tập thơ này, vì vậy, là thơ của những hóa chất cảm xúc: thứ mùi lưu luyến, dai dẳng, ám rất lâu vào tâm trí người đọc.

Ngay bài mở đầu, “Mùa”, đã cho thấy Hà Hồng Hạnh nhìn thế giới bằng điểm nhìn của tình yêu, tình tự: “mùa như đôi tay/choàng qua vai/ gai gai hơi thở/ tháng tám mưa vắt ngang ngày cũ”. Mùa, vốn trừu tượng và vô hình, trở thành cụ thể và sinh động, như một tình nhân, nồng nàn xúc giác, khứu giác, và nưng nức ký ức. Nói cách khác, trong thơ Hạnh, tình yêu không tồn tại như một hiện tượng thời gian tuyến tính, mà được lưu giữ, phân rã, tái kết lại bằng nốt hương, và vì thế luôn hiện hữu như một ký ức chuyển hóa.

Mùi hương tình yêu ngày cũ là hương của mê đắm: “trong mắt anh em nhìn thấy bầu trời/ muôn sao lấp lánh/ vòng tay anh ấm áp/ vồng ngực căng núi đại ngàn” (Em lót thảm đợi anh). Cũng là mùi của tàn khốc: “nước mắt lạnh buốt/ em hiểu thế nào là điên/ thế nào là đau đớn” (Anh biết không).

Như vậy, tình yêu trong tập thơ luôn tồn tại trong sự giằng xé giữa cái đẹp đến ngộp thở và cái đau đến nát lòng, là ký ức luôn thức và chưa bao giờ mất mùi hương, thậm chí khi tan ra, nó vẫn tan theo mùi hương: “nước mưa hay nước mắt/ mông lung khúc ca buồn…/ mưa hay em tan ra từng mảnh…/ thoang thoảng mùi hương roi nở muộn/ những sợi tơ mong manh gió thu” (Mưa thu). Và trong vô thức, người đàn bà vẫn liên hồi lần theo hơi ấm mùi hương ấy: “trong vô thức/ em lần theo mùi hương tìm anh/ dù kiệt cùng tuyệt vọng” (Tìm anh trong vô thức).

Đáng nói, Hà Hồng Hạnh không tái hiện tình yêu bằng hình ảnh, mà dùng mùi hương làm chất liệu kiến tạo ký ức. Điều đó tạo ra độ bền dai, độ thấm đượm, độ ám dụ mà những thứ thuộc về thị giác hay thính giác không mang lại được.

Nhưng thơ Hà Hồng Hạnh không chỉ là thơ tình yêu. Theo đó, ký ức thơ chị không chỉ xoay quanh câu chuyện anh em đôi lứa. Những ký ức gắn với người cha lam lũ hy sinh cũng được kết đọng thành mùi hương - thứ mùi hương rất neo đậu.

Trong bài “Bóng núi”, hương cha phảng lên cùng hương thảo mộc, hương đất, hương gió chạp: “từng hạt thóc ruộm vàng/ lặng im đợi ngày giáp hạt/ ngọn cỏ đọng giọt sương li ti/ trắng mái tóc cha” (Bóng núi). Không phải là chân dung “cha” theo dạng tiểu sử, mà là người cha của ký ức: thấp thoáng, nhòe đi trong khói chiều, trong sương mờ, trong gió táp. Ở đây, ký ức cá nhân của nhà thơ còn gắn liền với ký ức tập thể của người nông dân Việt Nam, những người cui cút lo toan gắn với “luống cày bạc phếch", gắn với "rét đậm kéo dài/ như sợi chỉ trên miếng vá cuộc đời”.

Ở thơ Hà Hồng Hạnh, thiên nhiên không phải là phông nền của ký ức, mà chính là ký ức. Đó là thứ thiên nhiên được cảm nhận chủ yếu bằng mùi. Mùa cứ đầy lên qua “sương tháng tám mỏng tựa làn khói…/ heo may e ấp trong túi áo/ hạt dẻ cựa mình…/ hương lúa nương căng sữa rì rào” (Ngược nắng); qua “hăng hăng/ mùi nhựa mới/ nắng thu óng ả quện mồ hôi bên bếp lửa rực hồng” (Nương chè Tam Đảo)… Những câu thơ này không mô tả thiên nhiên, mà triệu hồi, kết tụ thiên nhiên bằng mùi.

Hà Hồng Hạnh lần theo mùi hương ngày cũ -0
Bìa cuốn “Em lót thảm đợi anh” của Hà Hồng Hạnh.

Đặc biệt, nước xuất hiện dày đặc trong thơ Hà Hồng Hạnh mang đồng thời nhiều thứ mùi: mùi của thanh tẩy gột rửa, mùi của trừng phạt tàn phá, mùi của vô thường lưu thủy hành vân. Nước trong tập thơ không chỉ là vật liệu hình tượng, mà còn là “mùi của lịch sử”. Ở cấp độ cá nhân, nước gột rửa ký ức - “dòng nước từ ruột núi/ gột rửa tâm hồn” (Một ngày em thèm được ngốc nghếch) - như một thao tác thanh tẩy. Nhưng khi trở thành lũ, “nước duềnh cao đỏ quạch/ mái máu” (Nước và nước), thì nước ấy mang mùi của chết chóc, của thảm họa cộng đồng.

Một trong những thủ pháp thú vị của thơ Hà Hồng Hạnh là khứu giác hóa âm thanh (hay liên giác), biến cảm giác thành ký ức. Trong bài “Tiếng khèn dụ em lạc lối” chẳng hạn, tiếng khèn không chỉ rền vang, mà còn tỏa hương của gió núi, của men lá, của rạo rực giấc mơ tình yêu tuổi trẻ: “tiếng khèn reo vang/ lốc cốc vó ngựa/ váy xòe hoa ngang qua con suối/ lúa nương mùa chắc hạt/ má em tròn hây hây…/ tiếng khèn dắt em đi giữa triền sương”.

Tiếng khèn trở thành hương vị của sự tự do, của một không gian văn hóa miền cao. Âm thanh được “mùi hóa”, không chỉ gợi không gian mà còn gợi cơ thể và thời gian, vì vậy nó ám mùi, lưu cữu trong ký ức - một ký ức không đứng yên mà di chuyển, liên thông với hiện tại.

Nếu tình yêu là ký ức thiếu nữ đầu đời, cha mẹ là ký ức gốc, thiên nhiên là ký ức nền, thì vết thương là ký ức tối - ký ức không ai muốn nhớ nhưng lại không thể quên: “lớp lớp vết sẹo sù sì/ dấu tích nỗi đau tiền kiếp/ trời trở gió/ vết sẹo càng nhức nhói” (Vết sẹo).

Nhưng Hà Hồng Hạnh không bi lụy. Chị nhìn nỗi buồn bằng sự trưởng thành bình thản của một người biết sống sâu: “người đàn bà lẳng lặng qua bao bão giông/ khuất giữa đồi nương…/ hồn trà dâng đến kiệt cùng” (Nương chè Tam Đảo); “cứ dịu dàng với nỗi buồn/ anh nhé/ thế gian vui được mấy ngày/ cỏ vẫn xanh từ tiềm thức/ chiếc cầu đưa em sang bờ kia” (Dịu dàng).

“Dịu dàng với nỗi buồn” - đó là một cách “từ bi” với ký ức, là thái độ của một tâm hồn biết rằng ký ức sẽ không biến mất mà chỉ có tự thân mới thay đổi được cách chạm vào ký ức ấy.

Đi chậm, đi kỹ, đi sâu vào thi giới của “Em lót thảm đợi anh”, có thể nhận ra cấu trúc của thi tập là một chu trình ký ức: một vòng tròn hương - một vòng tròn sống - một vòng tròn tự cứu rỗi. Không phải ngẫu nhiên mà bài thơ “Ký ức” lại được đặt ở vị trí cuối tập thơ. Nhà thơ trở về đúng nơi khởi nguyên của bản thể: mùi của tao nôi sinh thành dưỡng dục. Đây là mùi hương chân thật nhất, “đáng giá” nhất để người thơ vịn vào mà đi qua vui buồn sướng khổ cuộc người.

Phải thế chăng, “Em lót thảm đợi anh” là một tập thơ hướng nội nhưng không chìm đắm; một phức hợp cảm xúc nhưng không rối loạn; một hành trình đau nhưng không tuyệt vọng. Như đã nói, bản lĩnh của Hà Hồng Hạnh là viết về nỗi buồn như một cách để “dịu dàng với nỗi buồn”. Và con đường dịu dàng nhất là lần lại những mùi hương ngày cũ - nơi mọi ký ức, dù đắng cay hay tươi đẹp, đều trở thành nguồn dinh dưỡng cho tâm hồn.

Mùi hương là ngôn ngữ thầm kín của người đàn bà trong thơ Hà Hồng Hạnh, một ngôn ngữ mang tính bản năng, bền bỉ, giúp chị đi từ chấn thương đến tự chữa lành. Đó là “mùi hương trinh khiết” chiết xuất một cách tự nhiên thật thà một khi chủ thể đã sống hết mình, luôn được là mình, như cánh hoa dại khờ mà minh triết: “bạt ngàn cánh gió chiều hoang/ dâng hiến đến kiệt cùng không than trách/ hoa ước một ngày bất tận/ gió đưa về miền xa/ rũ từng lớp cánh/ mùi hương trinh khiết” (Cánh hoa dại khờ). 

Hà Hồng Hạnh sinh năm 1980, hiện làm việc tại Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh Thái Nguyên. Tác phẩm đã xuất bản: “Đối thoại với bóng” (NXB Hội Nhà văn, 2025); “Em lót thảm đợi anh” (NXB Hội Nhà văn, 2026). Giải C cuộc thi thơ Làng Chùa “Thơ ca và nguồn cội” lần thứ 3 năm 2025; Giải C Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2025…

Hoàng Đăng Khoa

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).