Giáo sư, TSKH Tô Ngọc Thanh: Văn hóa chính là con người

Ông có hơn 40 năm lặn lội, nằm vùng ở các tộc người thiểu số, bước chân ông rong ruổi hơn 60 nước trên thế giới và đến bây giờ, ở tuổi 90, Giáo sư Tô Ngọc Thanh vẫn cặm cụi bên bàn làm việc với hàng chồng đề tài khoa học. Giáo sư chia sẻ cùng chúng tôi những trăn trở của ông về văn hóa và ngôn ngữ của các tộc người và nỗi lo văn hóa dân gian chỉ còn là cái bóng của quá khứ. Ông khẳng định, văn hóa chính là con người, lựa chọn văn hóa nào cũng do chính chúng ta.

- Thưa Giáo sư, cả cuộc đời gắn bó và nghiên cứu về văn hóa dân gian, đối với ông, điều này có ý nghĩa như thế nào?

+ Bà nội và mẹ tôi có kể rằng, hồi bé nếu không hát ru thì tôi không ngủ. Lớn lên tôi ra Hà Nội ở với bố, không ai hát ru cho nữa nhưng tôi nhận ra mình yêu âm nhạc. Sau này tôi học nhạc, chơi với nhiều anh em nghệ sĩ chèo, đi xem hầu đồng, rồi mê đắm văn hóa dân gian. 25 tuổi, tôi vác ba lô lên Tây Bắc đi điền dã, bắt đầu cho hành trình của mình.

Hơn 40 năm sống ở các vùng dân tộc miền núi, tôi đến khoảng 15 tộc người, ở đâu, tộc người nào tôi cũng sống cùng họ, ở cùng họ, nói được ngôn ngữ của họ. Như với người Ba Na, tôi mất 7 năm ở đó, cũng đóng khố cởi trần, ăn ngủ cùng họ. Phương pháp của tôi là insider (người trong cuộc). Khi tôi sang Mỹ tham dự hội nghị, với phương pháp nghiên cứu đó, họ hỏi tôi có biết hai thứ tiếng không. Tất nhiên rồi, vì không có hai thứ tiếng làm sao tôi thành người trong cuộc để có thể hiểu sâu về đời sống của họ được.

 Giáo sư, TSKH Tô Ngọc Thanh: Văn hóa chính là con người -0
Món xôi là một đặc sản thể hiện văn hóa của người Thái.

- Vậy thưa Giáo sư, điều gì ở văn hóa dân gian hấp dẫn ông đến thế?

+ Nước ta có 54 tộc người, chia ra nhiều nhóm ngữ hệ khác nhau, như ngữ hệ Môn Khmer (có tộc người Bana, Êđê), nhóm Việt Mường (Thái, Tày...)... Mỗi ngữ hệ như thế, tôi chọn 1 tộc người điển hình để nghiên cứu. Đầu tiên tôi ở với người Thái 12 năm, tôi rất thông thạo tiếng Thái, vì phương pháp của tôi là người trong cuộc, có lẽ người Thái không hiểu văn hóa của họ bằng tôi. Khi nghiên cứu về người Mông, tôi nói được tiếng Mông, tiếng Dao.... Đến bây giờ, tôi rời hiện trường ấy hơn 20 năm rồi, đã quên vợi đi rồi. Nhưng đó là cả một kho tàng văn hóa dân gian phong phú. Nó mang vẻ đẹp lấp lánh của những huyền sử, của những biểu tượng.

- Nhưng Giáo sư cho rằng, ngày nay, văn hóa dân gian đang dần mất đi vẻ đẹp lấp lánh của những huyền thoại?

+ Nếu chị đi ngược lên miền núi sẽ không còn cảnh súc vật ở dưới, người ở trên, đường vào ngõ xóm không còn phân trâu bò, nhìn về tiến bộ vật chất, văn minh thì có vẻ phát triển, nhưng đó chỉ là bề ngoài của văn hóa mà thôi, còn bên trong, người Thái có còn là người Thái không, họ có còn diễn đạt bằng ngôn ngữ của họ nữa hay không? Đó là điều cần suy nghĩ.

Tôi lấy một ví dụ, theo phong tục người Thái, khi chào ra về, họ sẽ nói: “Tôi đi trước nhé”. Tôi đi trước khác hẳn tôi về nhé, tạm biệt nhé dù thực ra cũng là về, nói như thế để thấy tôi và các bạn vẫn không rời nhau. Cái hay, cái ý nhị của họ là ở chỗ đó. Bây giờ họ không nói như thế nữa. Họ nói bằng tiếng Kinh. Ngôn ngữ là cách biểu đạt tâm hồn con người nhưng nó đang mất dần. Kiểu nói bằng hình ảnh của người thiểu số, mỗi hình tượng sẽ biểu tượng cho một điều gì đó, nó mang vẻ lấp lánh, bóng bẩy của các huyền tích, điều này bây giờ gần như không còn nữa.

Một ví dụ khác, tôi nghiên cứu về người Thái và hiểu rằng, họ thích ăn cơm nếp vì họ ở thung lũng mà thung lũng chỉ có thể trồng lúa nếp thôi. Giờ họ ăn gạo tẻ rồi, nhưng cơm nếp là 1 đặc sản của họ, phải đồ chứ không nấu. Họ cho nếp vào chõ, đồ xong đổ ra nong được trải bằng lá dong, sau đó lấy que cời ra và quạt cho hết khói, khi nào tay sờ được mới đơm cho vào chõ, nên cơm nếp để đến ngày hôm sau vẫn dẻo. Nó được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Người Thái không đánh trẻ con, không nói nặng với trẻ con. Họ đối xử với trẻ con như một nhân cách, vì thế trẻ con Thái rất ngoan. Ta thì “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”, rất khác nhau, đó là văn hóa?

- Hơn 40 năm lăn lộn với các vùng văn hóa ấy, hẳn Giáo sư có rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Giáo sư có thể chia sẻ một vài kỷ niệm?

+ Có một câu chuyện khiến tôi nhớ mãi. Đó là năm 1962, tôi đeo ba lô đi vào một vùng xa của Sơn La để nghiên cứu về người Thái. Tôi đi bộ và leo núi, trời lạnh buốt, ngày xưa cán bộ như tôi có thêm một cái áo là tốt lắm rồi. Chân không có tất. Sốt rét rừng không có thuốc, tôi bị nhiễm sốt rét rừng, sau 1 ngày trèo đèo lội suối, trời chạng vạng tối, tôi ngất xỉu bên bờ suối, tỉnh dậy thấy đang ở nhà một người Thái, được họ thay cho quần áo Thái dệt bằng vải thô rất ấm. Mỗi ngày tôi lên một cơn sốt, cứ thế 4 tháng ròng, hai bố con họ chăm sóc cho tôi. Khi tôi khỏe, ông già ngỏ ý muốn tôi ở lại làm rể. Nhưng tôi là một cán bộ khoa học, tôi không thể ở lại. Tôi hiểu rằng, đó là mong ước muốn đổi đời của họ. Người ta đối xử với tôi như thế, đó cũng chính là văn hóa.

 Giáo sư, TSKH Tô Ngọc Thanh: Văn hóa chính là con người -0
Món xôi ngũ sắc là một đặc sản của người Thái.

- Điều Giáo sư lo ngại chính là sự mất mát của các ngôn ngữ tộc người và đi liền với nó là sự biến mất của văn hóa các tộc người thiểu số? Giáo sư có bi quan quá chăng?

+ Giờ thế hệ trẻ không hiểu dân tộc mình nữa vì họ không suy nghĩ bằng biểu tượng, họ đã đánh rơi mất sự lấp lánh trong ngôn ngữ, suy tư và thực dụng hóa cuộc sống, nó không còn sự trong trẻo hồn nhiên. Tôi ở với đồng bào hơn 40 năm, tôi rất yêu sự trong trẻo và vẻ đẹp của những biểu tượng đó. Họ khác chúng ta vì thế, hai thế giới khác nhau, suy nghĩ, biểu hiện khác nhau.

- Vậy theo Giáo sư, chúng ta phải làm gì?

+ Hãy cứ để họ nói tiếng nói của mình, nó có sẵn rồi, vì ngôn ngữ là cả một kho tàng văn hóa, không có ngôn ngữ là mất tất cả. Bây giờ tính thực dụng của đời sống đang thắng thế, nhưng chúng ta không nên trả giá cuộc sống hiện đại bằng việc đánh đổi cái đẹp đẽ lấy cái thô tục. Không còn cách nói mang tính biểu tượng của những huyền thoại thì giữa các tộc người thiểu số với chúng ta không còn khác nhau và cái gọi là biểu hiện khác nhau của văn hóa cũng không còn nữa, bởi lời ăn tiếng nói là một biểu hiện của văn hóa. Vì thế, ngôn ngữ là điều quan trọng nhất chúng ta cần gìn giữ, đó chính là con người, chính là văn hóa. Chúng ta có 54 tộc người, nhưng đáng buồn thay, khi tôi vào trường dân tộc nội trú, tôi nhìn quần áo của các cháu mặc để chào theo ngôn ngữ của chúng, chúng nó nhìn tôi cười, bảo rằng ông nói tiếng Kinh đi. Có phải tôi là người lạ lùng không? Cứ muốn kéo mọi thứ trở lại không? Hình như tôi có một cõi sống riêng thì phải.

- Vậy theo Giáo sư, trong hành trình phát triển của một dân tộc, một đất nước, điều căn cốt nhất chúng ta cần gìn giữ là gì?

+ Tôi sống gần 1 thế kỷ, chứng kiến nhiều đổi thay, biến thiên của thời cuộc. Tôi là một trí thức có suy nghĩ, có phân tích, đánh giá và phản biện. Tôi nghĩ rằng, văn hóa là một thực thể xã hội, có tính độc lập riêng của nó, không phải cái này thay đổi là lập tức nó thay đổi theo, vì thế nó đọng lại thành truyền thống. Giờ kinh tế thị trường, xã hội hiện đại, để tiện lợi, mọi cái đều thay đổi. Tôi đơn cử văn hóa gia đình, ta luôn quan niệm gia đình là tổ ấm, nơi mọi người chăm sóc, yêu thương nhau. Giờ gia đình lỏng lẻo hơn. Xã hội hôm nay có nhiều bất an, xáo trộn, nhiều tệ nạn xảy ra. Đó chính là ứng xử giữa con người với con người. Đi đâu tôi cũng tìm con người, có nhiều điều tưởng như nhỏ nhặt nhưng đó là con người, là văn hóa. Dù muốn hay không muốn chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, cuộc sống thay đổi thì văn hóa cũng phải thay đổi, nhưng cái thay đổi đó có hợp lý với cuộc sống không, có phá vỡ các giá trị hay không, đó là lựa chọn của chính chúng ta.

- Cảm ơn cuộc trò chuyện của Giáo sư!

Việt Hà (thực hiện)

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).