Nguy cơ gia tăng xung đột, tranh chấp, mất ổn định an ninh, nhất là an ninh kinh tế (ANKT), đứt gãy chuỗi cung ứng và logistics toàn cầu, đẩy lạm phát tăng cao và nền kinh tế thế giới trước nhiều rung lắc, bất định. Và hậu quả từ cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran là ví dụ, làm gián đoạn tuyến vận tải huyết mạch qua eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển trên 20% lượng dầu mỏ của thế giới, đẩy giá dầu có lúc chạm mốc 120 USD/thùng, tăng mạnh chi phí đầu tư, vận tải, sinh hoạt... ở hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ.
Thủ tướng Lê Minh Hưng chỉ đạo việc giảm mặt bằng lãi suất, giúp khơi thông dòng vốn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh.
Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã khẩn trương chỉ đạo điều hành giảm mặt bằng lãi suất – chủ trương kịp thời, linh hoạt, quyết liệt nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ khó khăn, kích thích đầu tư, tiêu dùng, giữ vững ổn định nhịp tăng trưởng, giúp cho doanh nghiệp, người dân phần nào giảm áp lực tài chính, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng hai con số theo chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, ngày 09/4/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Phạm Đức Ấn đã họp với đại diện các ngân hàng thương mại (NHTM), cam kết giảm lãi suất tiền gửi và cho vay.
Để chủ trương, chính sách đi vào thực tế cuộc sống, với kỳ vọng NHNN thật sự là “trụ cột điều tiết tiền tệ”, “huyết mạch tài chính”, động lực cho tăng trưởng, từ góc nhìn bảo đảm ANKT và cách tiếp cận của doanh nghiệp, người dân, trên quan điểm xây dựng, vì ổn định, phát triển bền vững, giàu mạnh của nền kinh tế đất nước – giữ vững ANKT quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình dưới sự lãnh đạo của Đảng, theo chúng tôi, các bộ, ngành chức năng, đặc biệt là NHNN, các NHTM cần quan tâm lãnh đạo, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả một số chủ trương, giải pháp sau:
Một là, quan tâm lãnh đạo, tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về chủ trương điều hành giảm mặt bằng lãi suất – mệnh lệnh và là thông điệp “khơi thông dòng vốn cho sản xuất, kinh doanh”. Qua đó, thống nhất nhận thức trong cả hệ thống chính trị, người dân, đặc biệt là NHNN, các NHTM về giảm lãi suất, nhằm hỗ trợ tín dụng, đầu tư, kích cầu sản xuất, tiêu dùng - “cứu cánh” không chỉ với doanh nghiệp mà còn cả với người dân và toàn bộ nền kinh tế trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, áp lực lạm phát, tỷ giá tăng cao, nguy cơ làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu và Việt Nam cũng không là ngoại lệ.
Hai là, giảm lãi suất phải thực chất, minh bạch, lấy hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế làm thước đo chứ không chỉ dừng ở văn bản hoặc công bố giảm nhưng thủ tục, điều kiện vay lại khắt khe, bị lợi ích cục bộ chi phối, nhằm cản trở, trì hoãn. Đồng thời, việc giảm lãi suất phải được kết hợp với tiếp tục cải cách thể chế, chính sách, tháo gỡ các điểm nghẽn “gây ách tắc” không chỉ với các ngân hàng mà cả doanh nghiệp, người dân khi tiếp cận tín dụng - động lực cho đầu tư, phát triển và nền tảng tạo ra giá trị gia tăng.
Một thực tế NHNN, các NHTM những năm qua đã nỗ lực, cố gắng chủ động đẩy mạnh giải ngân tín dụng cho sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên; tích cực ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục vay vốn và luôn đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó… góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phục hồi tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội.
Tuy nhiên, vẫn có tình trạng mặc dù lãi suất công bố giảm nhưng thực tế điều kiện tiếp cận tín dụng còn khó. Bởi thủ tục vay vẫn “rườm rà”, hợp đồng vay thường bị “áp đặt” từ phía ngân hàng, gây bất lợi, thậm chí rủi ro cho doanh nghiệp, người dân nhưng cần đầu tư nên chấp nhận, làm “gánh thêm” nhiều khoản tiền khác, khiến phí vay luôn ở mức cao; giảm đi lòng tin vào chủ trương giảm mặt bằng lãi suất của Chính phủ.
Các ngân hàng thực hiện việc giảm lãi suất trong bối cảnh mới.
Ba là, phải phối hợp được chặt chẽ giữa chủ trương giảm mặt bằng lãi suất với chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, điều hành giá cả phải phù hợp với diễn biến thị trường và quan trọng hơn là phải phát huy được nội lực của nền kinh tế, tính minh bạch tài sản thế chấp và sức chống chịu của doanh nghiệp, người dân trước mọi biến động bất lợi của tình hình kinh tế trong nước và thế giới.
Đồng thời, phải nâng cao năng lực phân tích, cảnh báo nguy cơ lạm phát, biến động tỷ giá, nợ xấu và những rủi ro tác động từ thị trường tài chính quốc tế. Đặc biệt, phải chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó hiệu quả với biến động từ cạnh tranh chiến lược, chiến tranh thương mại và chuỗi cung ứng, logistics toàn cầu bị gián đoạn... Không để vì giảm lãi suất mà gây mất ổn định kinh tế vĩ mô hoặc làm ảnh hưởng đến an toàn hệ thống ngân hàng.
Bốn là, Ngân hàng Nhà nước, các NHTM cần tiếp tục tái cơ cấu lại bộ máy, tổ chức theo hướng tinh gọn, hiện đại, hiệu quả. Trên cơ sở quyết tiết giảm tối đa chi phí vận hành, chi phí trung gian, loại bỏ ngay “các phí” ngoài hợp đồng... Do vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, cắt giảm nhân lực dư dôi, các thủ tục hành chính không cần thiết, gây bất lợi cho doanh nghiệp, người dân khi tiếp cận tín dụng. Đồng thời, chủ động kiểm soát được lạm phát, ổn định được kinh tế vĩ mô; giảm chi phí đầu vào, xử lý hiệu quả nợ xấu; nâng cao năng lực quản trị; ngăn ngừa nhũng nhiễu, tiêu cực, lợi ích cục bộ... nền tảng tạo dư địa giảm lãi suất. Đây không chỉ là mệnh lệnh của Thủ tướng Chính phủ mà còn là yêu cầu nâng cao được năng lực cạnh tranh của chính hệ thống ngân hàng trong dài hạn.
Năm là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, theo hướng “thực chất, đúng trọng tâm, đúng bản chất dòng tiền và rõ trách nhiệm người đứng đầu”. Một thực tế hiện nay, nhiều ngân hàng công bố giảm lãi suất nhưng chỉ giảm đối với khoản vay mới, còn dư nợ cũ giữ nguyên; giảm lãi suất danh nghĩa nhưng lại tăng phí, điều kiện tín dụng; chỉ ưu tiên khách hàng “sân sau”, khách hàng lớn, khách hàng được vay ưu đãi...
Do vậy, trọng tâm tập trung đối chiếu công bố lãi suất với hồ sơ giải ngân thực tế; kiểm tra dữ liệu từng nhóm khách hàng, từng lĩnh vực; so sánh lãi suất trước và sau khi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; làm rõ tỷ lệ doanh nghiệp, người dân thực sự được giảm lãi suất. Đặc biệt làm rõ dấu hiệu “lợi ích cục bộ”, “neo lãi suất”, giữ mặt bằng lãi suất cao vì lợi nhuận; thiếu chia sẻ với doanh nghiệp trong lúc khó khăn; thậm chí ngụy tạo tâm lý “sợ trách nhiệm” chậm phê duyệt tín dụng hoặc đưa ra thủ tục rườm rà để hạn chế giải ngân.
Đồng thời, công tác thanh tra, kiểm tra phải gắn với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực... Kịp thời phát hiện, cảnh báo những tổ chức, cá nhân có những dấu hiệu tiêu cực, vì lợi ích bộ phận cố tình trì hoãn hoặc không thực hiện đúng chỉ đạo. Kiên quyết xử lý nghiêm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức cố tình né tránh trách nhiệm, trục lợi chính sách trong hoạt động ngân hàng.
Đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội mới, to lớn nhưng cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức về yêu cầu tăng trưởng, phát triển nhanh, bền vững, hùng cường của nền kinh tế, trong kỷ nguyên vươn mình, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do vậy, chủ trương giảm mặt bằng lãi suất của Chính phủ, thật sự là quyết sách kịp thời, đúng đắn, mang ý nghĩa chiến lược, nhằm “khơi thông dòng vốn” hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Đây không chỉ là giải pháp kinh tế mà còn thể hiện tinh thần luôn chia sẻ, đồng hành của Nhà nước với doanh nghiệp, người dân trước những khó khăn, thách thức.
Tuy nhiên, để chủ trương thực sự đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu quả thiết thực, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt, với quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn dân mà tiên phong, nòng cốt là NHNN, các NHTM trong tổ chức thực hiện, bảo đảm dòng vốn tín dụng được lưu thông đúng hướng, đúng đối tượng, minh bạch, phục vụ hiệu quả cho sản xuất, kinh doanh - động lực cho tăng trưởng bền vững nền kinh tế.
Và chỉ khi dòng vốn được khơi thông mạnh mẽ, doanh nghiệp được “tiếp sức” kịp thời, niềm tin thị trường được củng cố và sức sản xuất của nền kinh tế được duy trì hiệu quả thì các mục tiêu lớn về tăng trưởng nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hiện đại, sánh vai cùng các cường quốc, năm châu như Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra mới trở thành hiện thực sinh động trong đời sống kinh tế - xã hội.