Duyên phận phải chiều

Ai cũng có “duyên cá nước” và có “duyên đèo bòng”. Dân gian mới phổ thành lời hát khuyên rằng: “Duyên phận phải chiều...í a...”!!!

Chuyện kể, thời nhà Đường, có chàng học trò tên là Vu Hựu học giỏi, nhà nghèo, duyên phận chưa tới, thi cử lận đận, buồng không gối chiếc. Một chiều chàng thơ thẩn đăm chiêu bên dòng suối bỗng nhìn thấy một chiếc lá đỏ lững lờ trôi như vương vấn một điều gì. Chàng vớt lên thì thấy có cả một bài thơ găm rất khéo trên lá, chữ viết rất đẹp, ý thơ tình tứ nồng nàn lại có cái buồn xa vời, sâu thẳm. Ý thơ cho biết tác giả là một cung nữ... 

Chàng liền họa lại, cũng rất tình tứ nồng nàn lại thêm một chút hy vọng dù mơ hồ, rồi thả chiếc lá ấy xuống dòng... Cái duyên thật kỳ lạ! Chiếc lá trôi ngược về hoàng cung, vào tận tay người cung nữ tên Hàn Thuý Tần. Nàng bâng khuâng giữ như một kỷ vật quý...

Thời đó, nghe nói hình như có vua mới lên thay nên các cung nữ cũ được cho hồi hương. Thúy Tần trở về gặp Vu Hựu lúc này đã đỗ và làm chức quan nhỏ. Họ nên vợ nên chồng. Một hôm Vu Hựu nhìn thấy chiếc lá trong số đồ kỷ vật của vợ... Khỏi phải nói về sự sửng sốt bàng hoàng và vô cùng sung sướng của đôi vợ chồng trẻ! Thì ra có “nhân duyên” thật. Từ đó người phương Đông lấy màu đỏ của chiếc lá ấy làm màu của hôn nhân!!!

Đằng Vương Các tự!
Đằng Vương Các tự!

Chuyện ấy hẳn nhiên là giai thoại. Ở ta cũng có một giai thoại nhưng gần gũi với đời thực hơn. Là chuyện bà Nhữ Thị Thục (Từ Thục Nhữ phu nhân) con gái của quan Thượng thư bộ Hộ - Tiến sĩ Nhữ Văn Lan dưới triều Lê Thánh Tông. Tuy là nữ nhưng rất giỏi Nho học và lý số nên đến tuổi quá lứa mới chọn được người ưng ý là ông Nguyễn Văn Định. 

Ngày cưới, bà đã tính giờ tốt để “hợp cẩn” sẽ sinh Thiên tử nên dặn chồng giờ ấy, giờ ấy... Nhưng vì nôn nóng mà chồng bà động phòng sớm... Bà thở dài: Con mình chỉ là “quý tử”... Để bù lại, khi sinh ra Nguyễn Văn Đạt (Nguyễn Bỉnh Khiêm) bà cố tìm thầy dạy đích đáng cho con là cụ Bảng nhãn Lương Đắc Bằng. 

Một hôm bà dạy con hát: “Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con tựa ngai vàng”. Thế là tội “khi quân”! Ông Định hoảng sợ sửa lại: “Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con vịn ngai vàng”... Bà buồn rầu, tủi phận, chán nản mà bỏ đi! Bà đã cố tìm cái “duyên” nhưng không trọn vẹn... 

Có giai thoại kể tiếp rằng ra đến bến đò bờ sông bà gặp một người đàn ông mặt mũi xấu xí, da đen, tóc ngược, mắt sáng như điện... thần thái toát ra kẻ tinh anh phi phàm. Bà thở dài: Lẽ ra ta phải đợi người này! Người ấy là Mạc Đĩnh Chi sau này nổi tiếng hai nước Đại Việt, Trung Hoa... Chắc chắn đây là một thêm thắt để thi vị hóa câu chuyện quanh Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vì bà Nhữ Thị Thục và Mạc Đĩnh Chi sống ở hai thời đại khác nhau!

Đến tận thời cách mạng 4.0 hôm nay người ta vẫn nói câu cửa miệng: Vợ chồng cái duyên cái số! Thông tục hơn thì nói: Phải duyên phải số nó vồ lấy nhau! Thì chắc chắn thời xưa người ta nói rất nhiều và chắc rất tin vào “duyên phận”!

Dân gian quan niệm ai cũng có duyên có phận cả: “Rõ ràng giấy trắng mực đen/ Duyên ai phận ấy chớ ghen mà gầy”. Thế là có một loạt phương ngôn: “Duyên hèn phận hẩm”; “Phận hẩm duyên ôi”; “Duyên may/ưa phận đẹp”; “Duyên may phận rủi”... “Số” là số phận. “Duyên” là gì? Câu ca này giải thích: “Yêu em anh muốn nên duyên/ Sợ em đã có chữ thiên trồi đầu”. 

Chữ “thiên” nghĩa là trời, thêm dấu chấm ở đầu thành chữ “phu” nghĩa là chồng. Như vậy chữ “duyên” được hiểu thiên về “tình duyên”, cũng là cái số trong tình yêu!!! Nhưng trong thực tế văn chương thì chữ “duyên” được hiểu rộng rãi hơn nhiều nói về sự tương ngộ trong cuộc đời giữa người với người, giữa người với vật.

“Truyện Kiều” có câu: “Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa/ Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày”. “Duyên Đằng” có từ tích viên Tri huyện Hồng Châu nhân tiết Trùng cửu (mồng 9 tháng 9) làm tiệc lớn đãi khách ở Đằng Vương các. Nhà thơ Vương Bột ở nơi cách xa ngàn dặm, bình thường đi thuyền mất gần tuần lễ nhưng gặp gió thuận chỉ một đêm đến nơi để dự. Nhờ vậy bài thơ nổi tiếng “Đằng Vương các tự” của ông ra đời. Từ đó “duyên đằng” chỉ duyên may, thuận buồm xuôi gió trong bất kỳ công việc gì. 

Không biết có phải tích này minh họa cho ngạn ngữ: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ...” (Có duyên với nhau thì ngàn dặm vẫn có thể gặp) hay ngược lại. Chỉ biết hình như ai ai cũng có cái “duyên” ấy. Nhất là trong hôn nhân. Đến tận bây giờ, nhà trai đến “thưa chuyện” với nhà gái vẫn “mặc định” cái câu: “Gần thì chẳng hợp duyên cho...”!!! 

Truyện thơ Nôm “Quan Âm thị Kính” có câu: “Kể từ kim cải duyên xưa/ Dây leo cây bách mong nhờ về sau”. Thành ngữ có câu: “Duyên kim phận cải”, “Phận cải duyên kim” là có từ tích nhà Phật. 

“Kinh Nam bản niết bàn” nói: “Đem hạt cải ném trúng vào đầu mũi kim là việc cực khó. Gặp Phật ra đời còn khó hơn”. Từ đó cụm từ “duyên kim cải” chỉ việc ý hợp tâm đầu, may mắn gặp gỡ (của bất kỳ ai). Ra đường gặp người tri kỷ, đi công việc gặp may... là “duyên kim cải”. 

Không biết Phật tiếp thu “Kinh Dịch” hay ngược lại mà “Kinh Dịch” cũng có câu: “Không chỉ những vật cùng loại mới tương cảm, còn có sự tương cảm giữa các vật khác loại như từ thạch hút kim, hổ phách hút hạt cải...”. Hai chữ “tương cảm” này rất gần với thuyết “nhân duyên” của nhà Phật!?

Tranh: Kiều suy tư về chữ “duyên”!
Tranh: Kiều suy tư về chữ “duyên”!

Cái “hạt nhân hợp lý” của Phật giáo và Kinh Dịch về vấn đề này được khoa học hiện đại khẳng định con người ta ai cũng mang một “trường sinh học” nhất định (có thể gọi là “hào quang”). “Trường sinh học” này có “từ trường” riêng, có hút có đẩy theo một quy luật nhất định. 

Do vậy chữa bệnh bằng phương pháp này ít nhiều có cơ sở khoa học. Thế nên có khi nhìn nhau đã thấy ghét nhau. Càng trí tuệ cao tức sự mẫn cảm càng lớn càng dễ ghét nhau. Điều này giải thích trẻ con dễ chơi với nhau hơn người lớn. Là cơ quan nghiên cứu nhiều trí thức càng dễ mất đoàn kết. 

Người ta giải thích một cách “uyển ngữ” là tại nhiều cá tính, thực ra là sự đương nhiên. Lại có trường hợp “tiếng sét ái tình” vừa gặp đã yêu nhau. Tưởng là quấn nhau suốt đời, nhưng chỉ một thời gian là “ngủng ngoẳng”. 

Khoa học lại giải thích: “trường sinh học” không ổn định nhất thành bất biến mà chịu sự quy định của không gian: đến vùng đất này “tương cảm” nên khỏe mạnh, dễ chịu, thấy thư thái... thậm chí còn làm được thơ, dù trước đó rất ghét. 

Chịu sự quy định của thời gian: theo tuổi tác “hào quang” tỏa ra yếu đi...!!! Ngày xưa nhà vua nhà chúa chỉ chọn những cô gái phơi phới xuân tình 15,16 tuổi làm cung nữ để được hưởng truyền cái “trường sinh học” thơm tho dạt dào sức sống, là vì thế. Đừng nghĩ xấu là họ chỉ muốn “cái tình dục”!

Trong thực tế, có người chỉ hợp với nghề này, đồ vật này, cây này, nhà này... mà người khác thì không. Có người không hợp với cây cảnh/đá cảnh/vật cảnh... lại chơi một “cú tất tay” thì rất dễ “mất cả chì lẫn chài”... Những ai ở tuổi “tri thiên mệnh” thì trải nghiệm điều này rõ hơn cả! Cái ẩn ý ở phương ngữ “Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc...” là có phần nói về điều này. Ba mươi tuổi chưa ổn định (lập) nghề ngỗng công việc gì thì chưa được. Bốn mươi tuổi chưa làm được điều gì ra hồn thì không còn nghi hoặc điều gì nữa, vô tích sự hẳn rồi!

Trong văn chương thì thật quá nhiều chữ “duyên”. Cô Thúy Kiều của cụ Nguyễn Du là con người của chữ “duyên”, vì hầu như với ai cô cũng cắt nghĩa bằng “duyên”. Với Đạm Tiên: “Khóc than khôn xiết sự tình/ Khéo vô duyên bấy là mình với ta”. Với Kim Trọng: “Người đâu gặp gỡ làm chi/ Trăm năm biết có duyên gì hay không”. Với Thúc Sinh: “Xót vì cầm đã bén dây/ Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta”. Rồi Từ Hải: “Trai anh hùng, gái thuyền quyên/ Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”... Đấy gọi là “duyên cầm sắt” chỉ duyên hôn nhân chồng vợ. 

Sau này vẫn gọi thế: “Mừng duyên cầm sắt mối tơ đặng liền” hoặc “Tủi duyên con trẻ sắt cầm dở dang” (“Lục Vân Tiên” - Nguyễn Đình Chiểu). Thậm chí với trời đất, với cuộc đời, cô Kiều cũng nghĩ vậy: “Hoa trôi bèo dạt đã đành/ Biết duyên mình, biết phận mình, thế thôi”... Chữ “duyên” này không phải là “duyên cầm sắt” mà nếu may mắn thì gọi là “duyên cá nước”, nói chữ là “duyên ngư thủy” (“Thỏa duyên cá nước, gặp hội mây rồng” – Thành ngữ. Nguyễn Công Trứ có câu: “Duyên ngư thủy hội phong vân còn đó/ Miếng đỉnh chung cho biết mùi đời”). Không may thì gọi là “duyên đèo bòng” cứ buộc vào nhau, phải có. 

Ca dao có câu: “Gặp người cưỡi ngựa thiếu niên/ Cái roi ngựa ấy là duyên đèo bòng”. Cưỡi ngựa tất nhiên phải có “roi ngựa” để điều khiển ngựa. Chàng “thiếu niên” kia càng phải cần “roi” vì còn trẻ, ít kinh nghiệm, dễ bị ngựa “bắt nạt”.

Thế đấy, ai cũng có “duyên cá nước” và có “duyên đèo bòng”. Dân gian mới phổ thành lời hát khuyên rằng: “Duyên phận phải chiều...í a...”!!!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).