“Đường thi” của Ngô Tất Tố bị lãng quên?

Nhà văn Ngô Tất Tố (1894-1954) quá nổi tiếng về văn xuôi và báo chí nữa, nổi tiếng đến mức làm cho nhiều người quên đi hoặc coi nhẹ một lĩnh vực khác cũng rất quan trọng của ông: Nghiên cứu nói chung, đặc biệt là nghiên cứu thơ Đường, dịch thuật và giới thiệu thơ Đường.

Quyển “Đường thi” của Ngô Tất Tố do Nhà xuất bản Tân Dân in năm 1940 là công trình nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu thơ Đường đầu tiên ở nước ta (không kể một số bài in lẻ tẻ trên báo chí trước khi quyển sách ra đời, trong đó có cả những bài của Ngô Tất Tố). Phải năm năm sau đó, năm 1945, quyển sách cũng có tên “Đường thi” của  Trần Trọng Kim mới in ở Nhà xuất bản Tân Việt. Mà quyển này thì làm sơ sài, và không thể sánh với quyển của Ngô Tất Tố về bất cứ phương diện nào.

Sau quyển sách của Ngô Tất Tố cho đến nay, nhất là mấy chục năm gần đây, sách nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu thơ Đường nối nhau ra đời ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam, chứng tỏ người nghiên cứu và người đọc thời hiện đại bây giờ vẫn còn say mê thơ Đường lắm lắm.

Tôi thấy, trong quá trình nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu thơ Đường ở Việt Nam, “Đường thi” là một cột mốc, không chỉ ở vị trí tiên phong, mà còn ở chất lượng của nó.

Theo tôi biết, “Đường thi”, từ khi ra đời đến nay, mới in hai lần. Sau bản của Nhà xuất bản Tân Dân nói trên, là bản của Khai Trí, in ở Sài Gòn năm 1961. Quyển “Đường thi” mà tôi đang có là bản chụp từ bản in lần đầu, do gia đình nhà văn (con gái cụ là bà Ngô Thị Thanh Lịch cùng con rể cụ là ông Cao Đắc Điểm) gửi tặng mấy năm trước đây.

Cố nhà văn Ngô Tất Tố.
Cố nhà văn Ngô Tất Tố.

Bây giờ, mà tìm được một quyển “Đường thi”, dù bản in lần đầu hay bản in lần thứ hai, là một việc vô cùng khó khăn, chẳng những đối với một người đọc bình thường, mà ngay cả với các nhà nghiên cứu. Nhiều thư viện lớn cũng không còn giữ được.

Tôi xin nói chi ly một chút về “Đường thi”, bản in lần đầu. Dưới tên sách, tác giả ghi mấy chữ: “Phiên dịch và khảo cứu thơ Đường”. Sách dày 176 trang, khổ sách 11x19cm. Sau “Lời nói đầu” dài mười trang chữ nhỏ là phần “Lược sử những thi sĩ có thơ trích trong tập này” ghi tiểu sử 23 nhà thơ với tư liệu có được hồi bấy giờ.

Tiếp theo là 56 bài thơ của các nhà thơ nói trên, xếp thứ tự theo các thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thất ngôn cổ phong, ngũ ngôn tứ tuyệt, thất ngôn tuyệt cú, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật. Mỗi bài thơ có in chữ Hán, và ngay dưới mỗi dòng thơ chữ Hán là phiên âm Hán - Việt, sau đó đến ba mục là “Tìm điển”: chú thích một số từ; “giải nghĩa”: Diễn giải khá kỹ nội dung bài thơ theo kết quả nghiên cứu và cách hiểu của người dịch; “Dịch vần”: Dịch thành thơ, có khi là nguyên điệu, có khi là lục bát hay song thất lục bát.

Trong số 56 bài thơ được dịch, thì Lý Bạch 12 bài, Đỗ Phủ 8 bài, Vương Xương Linh năm bài; Tào Đường năm bài, Thôi Hiệu ba bài, Vương Duy ba bài, Đỗ Mục hai bài. Các nhà thơ có một bài là Vương Tích, Dương Quýnh, Lạc Tân Vương, Trần Tử Ngang, Vi Thừa Khánh, Trương Nhược Hư, Trương Cửu Linh, Vương Hãn, Từ An Trinh, Mạnh Hạo Nhiên, Sầm Tham, Trương Kế, Lý Đoan, Lưu Vũ Tích, Nguyên Chẩn, Trịnh Cốc, Trương Tịch và một bài chưa biết tên tác giả.

(Tôi cứ phân vân mãi, đến nay vẫn không hiểu vì sao Ngô Tất Tố không chọn dù chỉ một bài của nhà thơ rất nổi tiếng Bạch Cư Dị).

Trong “Lời nói đầu” có thể coi như một bài nghiên cứu công phu, nhà nghiên cứu nói về việc nghiên cứu văn chương - nhất là về thơ - trong hoàn cảnh bấy giờ, mà vẫn đang còn có tính thời sự ở thời điểm hiện nay. Ngô Tất Tố viết:

“Bên kia, súng Đức đương bắn sang mặt trận Anh - Pháp, đạn Nga đã bắt đầu rơi xuống Phần Lan, bên này, bom Nhật, sau khi đánh các miền Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa Nam, lại đã liệng xuống Nam Ninh.

Âu cũng như Á, thời cục đương sùng sục như nồi canh sôi, chưa biết rồi đây, máy bay, xe trận, tàu chiến sẽ đưa nhân loại đi đến chỗ nào.

Trong lúc này, ngồi mà nghiên cứu về thơ, nhất là nghiên cứu về thơ của Tàu, có lẽ cũng là một việc tối không hợp thời.

Tuy vậy, chiến tranh chỉ là việc trong thì giờ, văn học vẫn là chuyện của mãi mãi, đằng nào có sự quan hệ riêng của đằng ấy. Người ta không nên bỏ việc thiên cổ, khi phải lo chuyện nhất thời, tất nhiên người ta cũng không nên vì việc chiến tranh mà thôi nghiên cứu văn học”.

Ngô Tất Tố còn... cật vấn:

“Ai cấm chúng ta rung đùi ngâm thơ giữa lúc thế giới lục đục? Hơn nữa, trong nền văn hóa của ta, văn học Tàu đã chiếm đến chín phần mười yếu tố. Mà trong những yếu tố ấy, thơ Tàu cũng là một phần quan trọng”.

Ngô Tất Tố kết luận:

“Muốn để lại một mớ tài liệu cho công cuộc khảo cứu về các nguồn gốc thi ca của nước nhà, tự nhiên phải kể thơ Đường trước nhất”.

Tiếp đó tác giả khảo cứu về các thể thơ trong thơ Đường, việc phân các thời kỳ trong lịch sử gần 300 năm của thơ Đường, rồi nói về quy cách biên soạn, sắp xếp, dịch thuật của ông. Tất cả sẽ chứng minh đầy sức thuyết phục cho lời khẳng định của Ngô Tất Tố:

“Với tập thơ này, tôi đã hao tốn rất nhiều công phu, kê cứu rất kỹ”.

Để có khái niệm về cách làm việc của nhà nghiên cứu, nhà biên soạn và dịch giả Ngô Tất Tố có một cách cụ thể trong “Đường thi”, ta hãy lấy một bài sau đây làm thí dụ: Bài “Tiết phụ ngâm” của nhà thơ Trương Tịch. (“Tiết phụ ngâm” có nghĩa là “Bài ca của người tiết phụ”. Tiết phụ, theo quan niệm của người xưa là người đàn bà chồng chết mà ở vậy thờ chồng không đi lấy người đàn ông khác. Nghĩa rộng hơn là người đàn bà chung thủy).

Sau khi in bản chữ Hán và phần phiên âm của bài thơ, Ngô Tất Tố viết ba phần nữa:

1. Tìm điển:

Minh Quang: Tên một tòa đền thơ đời Hán. Sách “Tam phu cựu sự” nói: Trong cung quế có điện Minh Quang.

2. Giải nghĩa:

Sách “Dung trai tam bút” chép rằng: Trong khi Trương Tịch đương ở mạc phủ của một trấn khác, thì viên nguyên soái trấn Vận là Lý Sư Cổ gửi thư và lụa cho Trương và mời Trương về giúp việc mình. Trương không đi, mới làm bài này đưa cho Lý để tỏ ý mình. Trong bài toàn là lời của một người đàn bà chính chuyên nói với một người yêu mình.

Đại ý như vầy: “Chàng biết em đã có chồng rồi, nên mới tặng em một đôi ngọc châu trong sáng. Em cũng cảm về cái ý quyến luyến của chàng nên đã đeo đôi hạt châu ấy vào tấm áo lót mình bằng là nhuộm màu cánh sen.

Nhưng mà, nhà em ở cái lầu cao liền với vườn ngự, là chỗ người thường không được ra vào, chồng em hiện đương làm chức Trấp kích lang trong điện Minh Quang là chỗ nghiêm cẩn của hoàng cung... chắc chàng cũng biết cho rằng: Gia đình của em như thế, thì em không thể làm việc trái với danh giáo.

Đã hay chàng vẫn dụng tâm đường hoàng, lòng chàng sáng tỏ như mặt trời, mặt trăng, không phải là việc ám muội. Song em thờ chồng, thề phải cùng chồng sống thác, không thể làm vui lòng chàng. Bây giờ trả chàng đôi hạt châu đó, em cũng ứa hai hàng nước mắt, giận rằng chúng ta không gặp nhau khi em chửa có chồng”.

3. Dịch vần:

Tiết phụ ngâm

Chàng hay em có chồng rồi,

Yêu em, chàng tặng một đôi ngọc lành

Vấn vương những cảm mối tình

Em đeo trong áo lót mình màu sen

Nhà em vườn ngự kề bên,

Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang

Như gương, vâng biết lòng chàng

Thờ chồng quyết chẳng phụ phàng thề xưa

Trả ngọc chàng, lệ như mưa

Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng.

Đại để, các bài thơ khác trong “Đường thi” cũng được khảo cứu và dịch thuật như thế hoặc gần như thế.

Xem xét cách làm của Ngô Tất Tố ở đây, có thể thấy từ 80 năm trước, Ngô Tất Tố đã đọc rất nhiều thơ Đường (tất nhiên đọc từ chữ Hán) đã nghiên cứu rất nhiều tư liệu liên quan đến thơ Đường và các nhà thơ Đường, và trong quyển “Đường thi” này, ông là người đầu tiên đáp ứng gần đủ những yêu cầu để giới thiệu với số đông người đọc, nhất là những người đọc “bình dân”, những điều cần hiểu và những cái hay của một bài thơ Đường, cho dù mấy chục năm gần đây các nhà nghiên cứu - không chỉ ở Trung Quốc - đã có những phát hiện mới, cách hiểu mới ở loại thơ kỳ thú này, mà tất nhiên Ngô Tất Tố chưa biết.

Có một điều rất đáng lưu ý là, năm 1962, Nhà xuất bản Văn hóa (Viện Văn học) đã cho in bộ “Thơ Đường”, hai tập, do nhà thơ Nam Trân tuyển thơ, các vị túc nho Hoa Bằng, Tảo Trang, Hoàng Tạo dịch nghĩa và chú thích, nhiều dịch giả dịch thơ. Xét về nhiều phương diện, cho đến nay, hơn nửa thế kỷ, chưa có sách nào về thơ Đường vượt qua được. Trong bộ sách có độ tin cậy cao này, số lượng những bài thơ do Ngô Tất Tố dịch được chọn đến 22 bài, một tỉ lệ rất cao so với những bài ông dịch trong “Đường thi”.

Tôi nghĩ, với tình hình nghiên cứu thơ Đường hiện nay, có thể chỉnh lý và bổ sung vào cách làm của Ngô Tất Tố mấy điều. Thứ nhất, khi đã có một quyển “Đường thi từ điển” bên cạnh, các nhà nghiên cứu và người đọc có thể lược đi phần “Tìm điển”. Thứ hai, ở phần “Giải nghĩa”, nên kết hợp thế nào đấy để người đọc vừa hiểu thật sát từng câu thơ từ nguyên bản chữ Hán, vừa hiểu rộng ra ngoài cái nghĩa có trong câu thơ.

Còn về phần “dịch vần” (mà bây giờ ta gọi là “dịch thơ”) của Ngô Tất Tố, chỉ đọc qua bài “Tiết phụ ngâm” trên đây, đã thấy ông tài hoa, phóng túng mà “trung thành” với tác giả như thế nào trong việc chuyển ngữ một bài thơ Đường. Việc 22 bài dịch thơ của Ngô Tất Tố được chọn trong bộ “Thơ Đường” nói trên là một chứng minh.

Tôi vẫn hằng mong trong một ngày không xa, “Đường thi” của Ngô Tất Tố sẽ được tái bản. Tôi rất tin không chỉ các nhà nghiên cứu, các nhà thơ, mà nhiều người đọc muốn được trực tiếp sở hữu quyển sách này.

Hồng Diệu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).