Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm...

Trong thi ca Việt từ trước đến nay, khi miêu tả và ngợi ca vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ, hiếm có hình ảnh nào vừa kín đáo vừa quyến rũ, vừa gợi chất tục vừa gợi chất thanh như hình ảnh bầu vú, cộng thêm một vài diễn đạt cách điệu khác như: cặp tuyết lê, gò Bồng Đảo và một định danh chung chung là ngực...

1. Từ trong ca dao, đã có thể gặp không ít những câu mang tính chất tả thực, dĩ nhiên có cường điệu ít nhiều, về những vất vả nhọc nhằn của người phụ nữ qua hình ảnh này: "Chưa chồng yếm thắm đeo hoa/ Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành;  Một ngày ba bận trèo đèo/ Vì ai vú ếch lưng eo hở chàng;  Gái một con trông mòn con mắt/ Gái hai con vú quặt đằng sau". Nhìn chung, người bình dân Việt Nam trong kho tàng ca dao tục ngữ của mình chủ yếu thể hiện những kinh nghiệm quan sát, sự tri nhận mang tính chất dân gian, bước đầu cho ta một bức tranh miêu tả bề mặt của trái vú với các định dạng: "vú bánh dầy, vú tày giành, vú ếch, vú chữ tâm, vú quặt, vú mẹ, vú bà lão, vú quả dừa...".

Trong trường hợp cần nói giảm nói tránh để thể hiện nhã ngữ, người Việt có thể gọi vú là oản: "Gió Nam đánh tốc yếm đào/ Anh nghĩ oản trắng anh vào thắp nhang...". Khép lại thời kỳ văn học trung đại, có lẽ nổi tiếng nhất là câu thơ của Hồ Xuân Hương: "Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm/ Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông" (Thiếu nữ ngủ ngày).

2. Những hạn chế trong miêu tả trái vú của thời kỳ văn học truyền miệng theo tôi là một tất yếu mang tính lịch sử, khi mà ý thức cá nhân, sự giải phóng cá nhân còn chưa được đề cao ở xứ sở này, mà phải chờ đến khi có làn gió phương Tây thổi tới.

Câu thơ của Hồ Xuân Hương trong bài "Thiếu nữ ngủ ngày" mà tôi vừa nhắc bên trên có thể xem là một phá cách mạnh mẽ về mặt thi pháp xét trong dòng chảy của văn học trung đại. Nữ sĩ được mệnh danh là Bà Chúa thơ Nôm không chỉ ca ngợi vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ mà thậm chí còn miêu tả nó trong một cái nhìn tràn trề, quyến rũ, khiêu gợi và ít nhiều đậm nét nhục cảm.

Vẻ đẹp của tình mẫu tử - ảnh có tính minh họa.
Vẻ đẹp của tình mẫu tử - ảnh có tính minh họa.

Phải chăng câu thơ của Hồ Xuân Hương từ thế kỷ XIX đã góp phần khơi nguồn cho những cảm xúc của các thi sĩ lãng mạn thời kỳ 1932 - 1945, mạnh dạn miêu tả yếu tố nhạy cảm này từ góc nhìn của cái đẹp: "Hai vú nàng, hai vú nàng chao ôi/ Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng" (Bích Khê), "Những vú nõn đồi cong thon nho nhỏ/ Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh" (Bích Khê) hay "Trong tay Nàng ta ngả mình ngây ngất/ Nghe rõ ràng trên thịt ấm da xuân/ Ngực dâng cao, hơi thở đã mau dần/ Mùi cỏ lá bỗng thoảng hồn mong nhớ" (Đinh Hùng), "Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm" (Nguyễn Xuân Sanh).

Một người viết văn xuôi cùng thời với Xuân Diệu và Đinh Hùng là Nam Cao cũng không ngần ngại gọi tên chính danh trái vú trong một cảm thức về cái đẹp, khi ông so sánh với vầng trăng trong một truyện ngắn nổi tiếng của mình: "Trăng ôi trăng, cái vú mộng tràn đầy mà thi sĩ muôn đời mơn man..." (Giăng sáng).

"Về Kinh Bắc" của Hoàng Cầm là một trường hợp đặc biệt nữa, được ra đời vào cuối năm 59, đầu năm 60 của thế kỷ trước. Tập thơ như một giấc mơ kỳ lạ trong đời thơ Hoàng Cầm, vừa liên tục vừa đứt quãng với nhiều khoảng trắng và dấu lặng. Tính sắc dục với nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng, trong đó có yếm và vú, là một trong những điểm nhấn quan trọng của tập thơ: "Nghe nghìn muôn năm sau xoa nắn đôi bầu vú lửa" (Nắng phù sa), "Ngực yếm phập phồng bưởi ngọt" (Hội vật), "Giật yếm đào túm vội đôi bầu" (Hội Vân Hà), "Vú xuân đường phèn căng bưởi Nga Mi" (Vợ liệt sĩ), "Ấp vú mình trần con dế trũi/ Cành tre trải áo nép thân hình" (Tắm đêm).

Khép lại một giai đoạn văn học thời chiến, thơ Việt Nam sau 1975 mới lại bắt gặp nhiều câu thơ hay về hình ảnh vòm ngực - trái vú, hiện lên với những cảm xúc và cung bậc đa chiều, lúc thì đắm say hạnh phúc, lúc lại tủi phận bẽ bàng: "Môi mềm ngực nõn vòng tay xiết/ Anh là đá tảng cũng tan thôi" (Nguyễn Trọng Tạo), "Sau giây phút êm đềm trên ghế đá/ Anh quên cài khuy áo ngực cho em" (Dư Thị Hoàn).

Vòm ngực của người yêu còn gắn với nỗi nhớ khó nguôi ngoai trong tâm hồn thi sĩ. Đó có thể là nỗi nhớ về những ngày tháng cũ: "Áo trắng là áo trắng à/ Một hôm ta thấy bạn ta ngượng ngùng /Vờ che ngực áo căng phồng/ Ta run rẩy ngó má hồng hây hây" (Áo trắng má hồng - Nguyễn Duy). Đó lại cũng có thể là nỗi nhớ khi hai người xa cách nhau: "Nỗi nhớ dâng đầy trong anh/ Khuôn mặt em nụ cười em vòm ngực trắng" (Nỗi nhớ - Nhạc và lời: Phú Quang). Và nỗi nhớ ấy có khi nghẹn ngào xót xa bởi sự chia cắt phũ phàng và tàn nhẫn của chiến tranh: "Trả cho anh cát bụi/ Những đêm hành quân xa/ Trả lại em nước mắt/ Lăn ngang ngực đàn bà" (Hoàng Nhuận Cầm).

Một nhà thơ nữ mới xuất hiện gần đây là Đặng Hà My đã tỏ ra khá "nặng tình" với chất liệu nhạy cảm mà chúng tôi đang bàn ở đây. Tập thơ "Nhiên sơ" của chị có tới hàng chục bài thơ xuất hiện hình ảnh bầu vú, tất cả đều rạo rực nồng nàn và tràn trề nhục cảm khát khao: "Buổi chiều bừng lên sắc thắm/ Buổi chiều loang trên vú trắng/ Hoàng hôn thủng đáy/ Đêm đa tình trôi" (Giấc đỏ), "Anh vò muối mặn gừng cay/ Em xé vỏ tình rao bán/ Ngầy ngật một đêm thái giám/ Khóc ròng bên vú mỹ nhân" (Đêm thái giám), "Em váy ngắn, lưng anh dài vô tận/ Em ngực trần, anh bật khố mùa yêu" (Khát).

Nhưng tôi còn yêu hơn sau đây là những câu thơ đằm sâu bởi độ chín của cảm xúc, của tháng năm mà nhà thơ Hồng Thanh Quang đã viết: "Đóng cửa hờ thôi em/ Giời trao mình hơi mát/ Trái tim mệt vì yêu/ Nhưng vẫn còn cơn khát.../ Mặc tiếng sấm rền vang/ Mặc lập loè chớp nháy/ Vồng ngực trắng ngời lên/ Phập phồng như lửa cháy..." (Ngẫu hứng mưa). Một nhà thơ trẻ khác cũng có cách diễn đạt hết sức tình tứ và kín đáo về bầu vú: "Diều cong sừng trâu tuổi mùa thơ nhỏ/ Ta lại ngờ đêm nhu nhú búp măng" (Gọi về lối cũ - Nguyễn Quang Hưng).

3. Giờ xin bàn đến hình ảnh bầu vú trong thi ca của một số dân tộc khác, với những câu mà tôi từng được đọc. Các thi sĩ phương Tây như Baudelaire hay Valery đã đưa cặp vú vào thơ một cách rất tự nhiên: "La femme qui est dans mon lit/ N' a plus vingt ans depuis longtemps/Les seins si lourds/De trop d'amour (Tạm dịch: Người con gái đã từng nằm bên tôi/ Đã lâu rồi, hai mươi năm qua không còn nữa/ Ôi vòm ngực tràn đầy/ Nhiều như tình yêu em dành cho tôi) hay "L'instant d'un seins nu entre deux chemises" (Tạm dịch: Ôi khoảnh khắc bầu vú em lộ giữa hai bờ áo)...

Một bộ phim kinh điển của điện ảnh Pháp là  "Fan fan la tulipe" (1952) cũng có một cách diễn đạt độc đáo, hài hước về bầu vú qua lời nói của nhân vật chính: "Cảnh đẹp thật! Tôi thấy có một thung lũng xinh đẹp lượn giữa hai quả đồi trọc. Ở đó câu cá được không?". Còn Kinh Cựu Ước của người Do Thái có một câu thơ thật ấn tượng ca ngợi người tình nhân của vua Salomon: "Ôi cặp vú em như hai con nai sinh đôi".

Người Malaysia trong những bài dân ca của mình lại có cách diễn tả bầu vú rất riêng: "Dẫm phải gai đau chân/ Lá gai mọc giữa đầm/ Nhìn thấy vú đau lòng/ Vú dưới yếm đầy căng/ Ó làm tổ ở đâu?/ Nơi lũng sâu góc núi /Người tình muốn ngủ đâu/ Gối đầu trên đôi vú...". Trường ca "Đam San" của người Ê đê cũng có đoạn tả cảnh nhộn nhịp đông vui sau khi Đam San thắng trận và mở đại tiệc: "Các chàng trai đi lại, ngực chạm ngực. Các cô gái đi lại, vú chạm vú...".

Nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc, Nobel văn học 2012) đã chọn hình ảnh bầu vú như một biểu tượng quan trọng để đặt tên cho bộ tiểu thuyết trường thiên của mình là "Phong nhũ phì đồn" (Vú to mông nở). Người phụ nữ - nhân vật chính trong tác phẩm hiện lên như một hình mẫu lí tưởng về người mẹ nhẫn nại, vừa giàu sức sinh nở vừa giàu sức chịu thương chịu khó, cả đời hy sinh vì các con. Hình ảnh bầu vú trở đi trở lại trong tác phẩm, cho đến khi khép lại cuộc đời của nhân vật chính - Thượng Quan Lỗ Thị, thì những bông hoa nở rộ sau mộ của bà và những bầu vú hiện lên dồn dập trong ảo tưởng của Kim Đồng, đứa con trai duy nhất của Lỗ Thị. Người đọc cũng không thể quên được những hình ảnh mang tính nghịch dị về bầu vú, qua hình tượng nhân vật Kim Một Vú trong tác phẩm...

4. Nhà thơ Thế Hùng đã từng viết một bài thơ cực ngắn chỉ với hai câu, mà ở đó, ông đặt một phép đối xứng giữa mẹ và người yêu: "Anh lớn khôn dưới bầu vú mẹ/ Và dại khờ trước vòm ngực của em" (Romance 1). Theo tôi, nếu như vòm ngực của người yêu - người tình có thể trở thành một biểu tượng về sự đắm say trong hạnh phúc lứa đôi thì chỉ duy có bầu vú mẹ mãi mãi gợi về cho ta sự hy sinh thầm lặng, sự bao bọc nhân từ và yêu thương không điều kiện: "Đôi làn môi con nghiêng về vú mẹ/ Như cây lúa nhỏ nghiêng về phù sa/ Như hương hoa thơm nghiêng về ngọn gió/ Đôi làn môi con ngậm bầu vú mẹ/ Như búp hoa huệ ngậm tia nắng trời/ Như búp hoa huệ ngậm tia nắng trời/ Sữa mẹ trắng trong con ơi hãy uống/ Sữa mẹ trắng trong con ơi hãy uống/ Rồi mai khôn lớn con ơi hãy nghĩ/ Hãy nghĩ những điều trắng trong...". (Khúc hát ru những người mẹ trẻ, Nhạc: Phạm Tuyên, Thơ: Lâm Thị Mỹ Dạ).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).