Điệu thức ngàn xanh

Nếu cồng chiêng chịu sự ràng buộc nghiêm ngặt của tín ngưỡng đa thần, chỉ được sử dụng vào các dịp lễ hội đặc biệt và trước khi sử dụng, bao giờ chủ làng (pô plei) cũng phải tiến hành nghi lễ để xin phép thần linh, thì ngược lại rơkel đã được thế tục hóa, mặc dầu vẫn nằm trong quan niệm vạn vật hữu linh...

Tìm dò một lúc tôi mới đến được nhà chị Ma Tham (43 tuổi), nghệ nhân trình tấu rơkel (kèn bầu) của lũ làng Chu Ru, ở plei (thôn) Ma Đanh, xã Tu Tra, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Tôi ngỏ ý muốn tìm hiểu về chiếc rơkel, chị Ma Tham vui vẻ bảo em gái sang nhà bố mượn, rồi bắt đầu trình tấu và diễn giải. Này là điệu "Con sóc" (Pro), gửi gắm về thân phận người con không có cha có mẹ, sống thui thủi một thân một mình, đơn độc giữa rừng sâu, chỉ còn biết bầu bạn cùng con chim con sóc, kiếm được quả gì thì ăn cùng nhau. 

Pro có giai điệu chậm, buồn, xa vắng, nao lòng. Này là bài "Ru con" (Ryou anặh), nhẹ nhàng, khoan thai, trìu mến, đong đưa, đong đưa. Còn đây là điệu rơkel đưa tiễn người về nơi chín suối. "Trước khi đi chôn, mình thổi ru đưa tiễn, linh hồn người quá cố sẽ ở lại bên mình", Ma Tham cho hay. Âm điệu rơkel trong bài này nỉ non, day dứt, đắm chìm trong kỷ niệm về người đã đi vào thiên cổ nhưng không hề bi lụy mà là sự ru vỗ, an ủi người ở lại, dặt dìu tiễn linh hồn người đi. 

"Có hết, có hết, nó "nói" ở trong này này", nghệ nhân Ma Tham ngừng thổi, vừa nói vừa chỉ tay vào chiếc rơkel: "Vui cũng có, buồn cũng có, thủ thỉ tâm tình có, đối đáp thách thức nhau có...".

Khi vui cũng như lúc buồn chị Ma Tham lại lấy chiếc rơkel làm bầu bạn.
Khi vui cũng như lúc buồn chị Ma Tham lại lấy chiếc rơkel làm bầu bạn.

Đang dở câu chuyện thì có người tới. Ma Tham nhanh miệng: "Ha Sen, bố chị đấy! Người chế tác rơkel cho lũ làng Chu Ru mình đấy!". Tôi lặng ngắm cái dáng hình khắc khổ, lầm lũi của người đàn ông đã bước qua 70 mùa rẫy (70 tuổi) và không khỏi chạnh lòng, xót xa. Khuôn mặt ấy vạch chằng chịt những đường cày số phận sâu hoắm, những tâm sự ẩn chìm, những nỗi đời khuất lấp…, mà may ra chỉ hồn cây, khí núi mới có thể thấu ngộ. Bất giác, tôi rùng mình nghĩ: bóng cây thì dài, đời người lại ngắn, biết đâu? Trông già Ha Sen, tôi cũng tự hiểu vì sao cung âm chủ đạo của rơkel lại trầm buồn, sâu lắng đến vậy!

Chừng như không muốn thấy sự xa xót hiện lên trong mắt tôi, già Ha Sen lảng sang chuyện chế tác rơkel. Theo già Ha Sen, rơkel có cấu tạo khá đơn giản, gồm một quả bầu và sáu ống nứa. Quả bầu giữ vai trò làm hộp âm và sáu ống nứa chính là đường âm. Tuy vậy, chế tác được một chiếc rơkel có âm sắc chuẩn, đầy đủ hồn vía thì lại là chuyện khác.

Qua lời kể có nhiều rời rạc và đứt nối của già Ha Sen, tôi tìm cách xâu chuỗi, hệ thống lại để có thể hình dung như thế này: Trước hết, chọn quả bầu thật già, dày vỏ, kích thước vừa phải và tròn đều, đem thả xuống giếng nước cho ruột rữa ra trước khi loại bỏ ruột qua lỗ cắt ở phía cuống, rồi làm sạch bằng nước suối và mang đi phơi nắng. Phơi xong, cho vỏ quả bầu vào luộc với lá hoặc vỏ cây rừng có chất đắng chát để tránh mối mọt và co giãn sau này.

 Kế đến, gác quả bầu lên giàn bếp khoảng một tháng cho da lên màu nâu đỏ và săn, rồi lại đem phơi sương thêm vài đêm nữa. Sau đó, khoét lỗ ở bên hông, kiểm tra âm để lắp sáu ống nứa thành hai hàng. Hàng trên gồm bốn ống và hàng dưới có hai ống. Mỗi ống ở hàng trên sẽ được khoét một lỗ thoát âm tương ứng với các âm Đô, Rê, Mi, Fa trong âm nhạc phương Tây. Hai ống nứa ở hàng dưới cũng được làm tương tự. Có điều ở hai lỗ thoát âm này chỉ tạo ra được mỗi âm Sol.

"Rơkel thiếu hai nốt La và Si" - Ha Sen giải thích - "Ống nứa phải thon gióng, mỏng vừa độ. Ống ngắn cho lượng âm cao, ống dài cho lượng âm thấp. Ống nứa cũng phải trải qua các khâu kiểm tra âm và phải đảm bảo độ bền chất liệu. Nếu thỏa mãn được những yêu cầu trên, bấy giờ người chế tác mới dùng dao chuyên dụng khoét sáu lỗ ở phía bên ngoài hộp âm (quả bầu). 

Ngoài ra, người chế tác rơkel còn phải tính toán, đo đạc, căn chỉnh làm sao lấy được phần chính giữa của ống nứa ở phía trong hộp âm, rồi dùng dao khoét một lỗ dài khoảng 2cm và gắn thêm một cái lưỡi gà bằng inox vào đấy để tạo độ rung. Khâu này rất quan trọng và cũng là khâu khó nhất. Bởi nó quyết định âm sắc. Cuối cùng mới gắn đường âm (sáu ống nứa) vào hộp âm (quả bầu) và lấy sáp của con ong muỗi cố định ống nứa vào quả bầu. Chiếc rơkel hình thành. Tất nhiên, để âm sắc rơkel chuẩn, có hồn vía, còn phải tháo lắp, chỉnh sửa nhiều lần".

Âu đó là định mệnh, hay nói đúng hơn, như một lẽ tự nhiên thường hằng nhuốm màu sắc siêu linh trong việc bảo lưu những tinh túy văn hóa dân gian, Ha Sen được Yàng (thần linh trong tín ngưỡng đa thần của người bản địa) chọn, trở thành truyền nhân giữ nghiệp làm rơkel cho lũ làng. Nhờ óc sáng tạo cùng bàn tay khéo léo, tỉ mẫn, cầu kỳ và khả năng thẩm âm tinh tế, Ha Sen đã chế tác nên những chiếc kèn độc đáo, mang đúng điệu thức dân tộc mình. 

Hơn chục năm nay, rơkel của Ha Sen nổi tiếng khắp vùng. Nó theo chân người yêu nhạc có mặt ở trăm nhà, từ người Raglai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận đến người Mạ, Chu Ru, K'Ho, Cil, Làc, Srê… ở hầu khắp các huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng. Không những vậy, rơkel của Ha Sen còn vượt cả sông K'rông Nô để đến với đồng bào Êđê, Bana ở Đắk Lắk, Đắk Nông. Người tìm mua rơkel là tìm bạn tri âm, tri kỷ. Thả hồn mấy điệu, nếu âm sắc rơkel chuẩn là mua liền. Chủ khách đều vui cái bụng, rồi rượu gà được bày ra, chếnh choáng, chất ngất trong men rừng, trong điệu rơkel ngân vang da diết, cảm thương, bồng bềnh, hoan hỉ…

Già làng Chu Ru và chiếc rơkel.
Già làng Chu Ru và chiếc rơkel.

Cách thức sử dụng kèn bầu sáu ống là thổi hoặc hít hơi vào cuống quả bầu. Các ngón cái, trỏ, giữa và áp út bàn tay trái giữ lỗ thoát hơi của bốn ống nứa hàng trên. Ngón cái và ngón trỏ bàn tay phải giữ lỗ thoát hơi của hai ống nứa hàng dưới. Rơkel có thể dùng độc tấu, hoặc hợp tấu với các loại nhạc cụ khác như chiêng (chinh sàrr), trống (sơgơk) và các điệu dân vũ ảo huyền: Tamya Ariya, T'rum-pô, Dam dra… 

Trong giàn nhạc hợp tấu, rơkel đóng vai trò giữ nhịp, tâm sự dọc chiều lễ nghi. Rơkel tấu trước, cồng chiêng đánh theo sau tạo nên bản hòa âm uyên bác, đa nghĩa. Tín niệm người Chu Ru cho rằng, sự thông nối giữa kèn bầu và cồng chiêng là sự thông nối giữa âm và dương, giữa vợ và chồng, giữa đực và cái. "Không biết cái nào vợ cái nào chồng, nhưng âm dương thì phải "ăn" nhau", Ma Tham nói. 

Nhưng kèn bầu khác cồng chiêng ở chỗ: Nếu cồng chiêng chịu sự ràng buộc nghiêm ngặt của tín ngưỡng đa thần, chỉ được sử dụng vào các dịp lễ hội đặc biệt và trước khi sử dụng, bao giờ chủ làng (pô plei) cũng phải tiến hành nghi lễ để xin phép thần linh, thì ngược lại rơkel đã được thế tục hóa, mặc dầu vẫn nằm trong quan niệm vạn vật hữu linh.

 Do vậy, đồng bào Chu Ru sử dụng rơkel ở mọi lúc mọi nơi, trong mọi trạng thái tình cảm. Bài vui thì có: Cúng thần đập nước, mừng lúa mới, mừng nhà mới, cưới hỏi… Tiết tấu nhanh, rộn ràng, linh thiêng. Bài "Lấy lửa" (Mặ ơpui), lấy lửa bằng cách cà vỏ cây nứa vào nhau. Rơkel thủ thỉ tâm tình: Con đói rồi vợ ơi, chàng đang làm mỏi tay mới ra lửa, về thổi cơm cho con ăn… 

Bài "Tập trung" (Tơri gùm) kêu gọi đoàn kết, rơkel lại nói: "Cùng nhau về bên ché rượu cần, ai cũng ở nhà xa là chia rẽ, hãy tập trung một chỗ, cùng sống với nhau nhằm tránh hoang mang, sợ hãi trước hiểm họa thiên nhiên, thú dữ". Rơkel ngân, cuốn, du dương, gọi mời. Bài "Giao duyên" tha thiết, quấn quyện, ngọt ngào: "Tôi yêu đằng ấy, đằng ấy có yêu tôi không? Tôi thương đằng ấy, đằng ấy thương tôi chứ?". Nam thanh nữ tú Chu Ru thích những điệu rơkel nhanh, mạnh, kiêu hãnh, vui tươi, còn những người già yêu các điệu trầm, man mác, nhuốm màu hoài niệm.

Mỗi một thông điệp gắn liền với một điệu thức, một bài bản riêng, không hề lẫn lộn. Người thổi hay rơkel là phân biệt ở chỗ rơkel có đủ điệu thức hay không, âm sắc có chuẩn, đầy đủ hồn vía không. Ma Tham học thổi rơkel từ năm 13, 14 tuổi và bây giờ chị đã 43 tuổi. Chị bồi hồi nhớ lại: "Có người già vào làng thổi, mình hỏi điệu này điệu kia, nghe và để trong cái đầu rồi bắt chước, hai năm sau thì thành thạo. Các bài đều có sẵn, nhưng không ai biết ký âm để truyền dạy bằng văn bản, mà chỉ bằng phương pháp thị phạm, ai có năng khiếu cảm thụ thì nhớ".

Lướt nhẹ đôi tay trên chiếc rơkel, nghệ nhân Ma Tham đưa tôi vào một thế giới thần tiên siêu thực, nhưng cũng hết sức bình dị và rất đời, qua những khúc thức, giai điệu bổng trầm: Khi trầm thiêng như tiếng sấm rền dội vang từ vách núi; lúc thâm u như tiếng gió giữa đại ngàn; có khi róc rách, nhấn nhá như con nước xuôi dòng; lắm lúc lại buông lơi, lả lướt như giọt nắng cuối chiều… Và tôi hiểu, đấy chính là tiếng lòng của người Chu Ru tự ngân rung, tự thẩm thấu từ thế hệ này đến thế hệ khác: Tiếng vọng của ngàn xanh.

Rời sơn thôn về lại phường phố, tạm biệt những khuôn mặt dặc dài nắng gió, tạm biệt điệu thức rơkel, trong tôi lại mê man những thang âm ngày mới. Vâng, thang âm của niềm tin đại ngàn.

Trịnh Chu

Các tin khác

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

Gần đây, nhiều hoạt động lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, di sản mang đậm sắc màu dân tộc như vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đã thu hút sự quan tâm của giới trẻ...

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.