Đền thiêng - sứ giả văn hóa đến từ hôm qua!

Là nơi thờ phụng các vị thần, anh hùng có công, tự thân các ngôi đền đã là một không gian thiêng kết nối con người với cội nguồn tâm linh và quá khứ lịch sử. Mỗi ngôi đền đều chứa đựng các giá trị văn hóa riêng về nghệ thuật, kiến trúc, tín ngưỡng, phản ánh và ký thác niềm tin, khát vọng.

Không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo, tâm linh, nghệ thuật, đền thiêng còn là biểu tượng của lòng thành kính, của đạo lý biết ơn. Ở bất cứ thời nào, các ngôi đền đều là sứ giả, là cầu nối văn hóa hôm qua với hiện tại.

Bức thông điệp giàu có ý nghĩa của quá khứ

Hầu hết các hiện vật văn hóa có giá trị được lưu lại từ quá khứ đều là những biểu tượng có hai lớp nghĩa: Một, là những ký hiệu có trong lịch sử, theo thời gian được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, lắng đọng, kết thành hình tượng bao chứa lượng tri thức văn hóa sâu rộng, có tính cộng đồng cao, trở thành một “căn cước văn hóa”. Hai, tập trung khái quát cao độ những ý nghĩa lịch sử - xã hội, nhìn vào đó sẽ thấy phần nào nội dung bản chất thời đại.

Trong hệ thống biểu tượng, đền rất giàu có ý nghĩa, bởi tập trung tồn tại ở đó gần như đủ các loại hình nghệ thuật: văn học, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc… nổi bật hơn cả là về kiến trúc và tôn giáo. Một nguyên tắc kiến tạo tượng đài, theo mỹ học tạo hình hiện đại phải vừa là nơi gặp gỡ, tương tác giữa ánh hồi quang từ quá khứ và những ánh xạ của cuộc sống đương đại, để tạo nên dải quang phổ có độ tán sắc ánh sáng văn hóa. Vì vậy không gian tượng đài, không chỉ để làm phông nền cho hình tượng, còn khơi gợi ra sự liên tưởng thẩm mỹ về tầm cao tôn kính, chiều sâu triết lý, bề xa nhận thức.

image001.jpg -0
Đền thờ Chu Văn An.

Đền thiêng trước hết là một tượng đài tỏa sáng muôn ngàn ý nghĩa văn hóa. Ví như đền thờ Khổng Tử, về bố cục, được xây dựng theo trục dọc đối xứng, cấu trúc của “thiên - địa - nhân” trong triết học Nho giáo. Từ cổng (Tam Quan) - mô hình “tam tài” (Trời - Đất - Người); đến ao (Thiên Quang) - sự tĩnh lặng, phản chiếu trí tuệ; qua sân (Đại Thành) - bể học mênh mông; đến điện thờ chính - tôn vinh tri thức, đạo đức. Đó là một hành trình từ cõi thế tục đến miền đạo đức, trí tuệ thiêng liêng. Vật liệu kiến trúc của đền kết hợp hài hòa gỗ, đá, ngói, cây cối để kiến tạo một không gian trang nghiêm, thanh tịnh với triết lý “tĩnh để học, hòa để sống”.

Như vậy, đền thờ Khổng Tử, ngoài ý nghĩa tôn giáo, tâm linh, còn sâu sắc ý nghĩa giáo dục, triết học. Theo tinh thần đối thoại văn hóa, hành vi viếng đền, ngoài một khát vọng tôn giáo, còn là dịp để con người lắng lại, gợi ngẫm, tự soi chiếu vào thế giới nội cảm về đạo làm người, về sự hài hòa con người - xã hội - thiên nhiên.

Tháp Chăm là đền thờ của người Chăm theo đạo Bà-la-môn (Hindu giáo), thờ các vị thần Hindu như Shiva, Vishnu, Brahma hoặc thờ các vị vua anh minh được “thánh hóa”. Nhưng vẫn quen gọi là “tháp Chàm” để nhấn mạnh đặc trưng kiến trúc hình tháp nhiều tầng với hệ thống hoa văn tinh xảo. Xét về chức năng tín ngưỡng, đó là những ngôi đền, đúng ra, phải gọi đầy đủ là “đền tháp Chăm”.

Là sự mô phỏng Linga - Yoni (sinh thực khí nam - nữ trong Ấn Độ giáo), tháp Chăm biểu trưng cho sự sáng tạo và sinh sôi của vũ trụ. Hình tháp vươn cao, đỉnh thu nhỏ mang dáng dấp thẳng đứng của Linga - biểu trưng cho thần Shiva. Đỉnh tháp (thường hình chóp/búp sen) được coi là phần thiêng nhất, hướng lên trời, thể hiện sự giao hòa giữa con người và thần linh. Trong lòng tháp đặt Linga - Yoni, là nơi tôn thờ sức mạnh sáng tạo của thần Shiva và nguyên lý âm - dương, trời - đất.

Cấu trúc của tháp cũng nói lên khát vọng về một cuộc sống sinh sôi, với đế tháp (Yoni - đất, phần âm, tượng trưng cho thế giới vật chất); thân tháp (cuộc đời); đỉnh tháp (cõi thiêng). Không chỉ là một biểu tượng kiến trúc hóa của Linga - Yoni, tháp Chăm còn là tư tưởng vũ trụ luận, là tín ngưỡng phồn thực trong Ấn Độ giáo được “Chàm hóa”.

Bản lề khép mở hai thế giới!

Mỗi ngôi đền, dù thuộc tôn giáo hay nền văn minh nào, đều phản ánh niềm tin, triết lý sống và khát vọng hướng thiện của con người. Như cái bản lề khép mở hai thế giới hôm qua với hôm nay. Nhìn vào hôm qua để biết, và suy ngẫm về hôm nay.

Một nghiên cứu địa khảo cổ quy mô, mới nhất về quần thể đền Karnak thiêng bậc nhất của Ai Cập cổ đại, có kết quả cho thấy vị trí ngôi đền liên quan đến thần thoại sáng thế. Phân tích 61 lõi trầm tích cùng vô số mảnh gốm thu thập trong và xung quanh khu đền, các nhà khoa học khẳng định, khu vực này trước khoảng năm 2.520 trước Công nguyên thường xuyên bị ngập do lũ, chưa thể sinh sống lâu dài. Việc định cư và khởi dựng công trình chỉ có thể bắt đầu từ thời Cổ Vương quốc (khoảng 2.300 – 1.980 TCN).

Đối chiếu với các văn bản thời Cổ Vương quốc, khu đảo nơi dựng đền Karnak là vùng đất cao duy nhất, chung quanh là nước. Nơi này chính là chỗ ở của thần Ra-Amun - bóng dáng “hoàn hảo” của hình ảnh “gò sáng thế” nổi lên từ “nước hỗn mang” - biểu tượng của sự khai sinh vũ trụ. Kết quả các nghiên cứu liên ngành đang dần làm hiện lên khá rõ không gian trung tâm tôn giáo cổ Thebes.

Ở ta, truyền thuyết “Thăng Long tứ trấn”, thực chất là truyền thuyết về bốn ngôi đền. Chữ “trấn” ở đây được hiểu là ngăn cản, giữ gìn, bảo vệ, cụ thể là ngăn cản sự “trấn yểm” của Cao Biền để bảo vệ Thăng Long “đệ nhất đại huyệt mạch đế vương quý địa” (huyệt mạch đế vương tốt nhất, quý nhất). “Tứ trấn” gồm: Đền Bạch Mã trấn phía Đông; Đền Voi Phục trấn phía Tây; Đền Kim Liên trấn phía Nam; Đền Quán Thánh trấn phía Bắc. Mỗi ngôi đền thờ một vị thần có nguồn gốc và ý nghĩa khác nhau nhưng có điểm chung đều là võ thần, tức các thần có sức mạnh để cảm hóa hoặc chinh phục giặc dữ xâm lăng hoặc kẻ xấu, kẻ ác.

Lời nhắn của tiền nhân

Đền thờ Chu Văn An của ta để tôn vinh bậc danh sư lỗi lạc – Chu Văn An (1292-1370), người thầy mẫu mực muôn đời, biểu tượng cho truyền thống “tôn sư trọng đạo”, mang ý nghĩa sâu sắc về giáo dục, đạo đức và tinh thần chính trực của người trí thức. Đền thờ là biểu tượng của tinh thần hiếu học, nhắc nhở các thế hệ học trò rèn luyện nhân cách, trau dồi học vấn. Việc đến dâng hương tại đền, ngoài hành động tri ân người/nghề thầy, còn là lời nhắc nhở về chuẩn mực đạo đức, lối sống giản dị, khiêm nhường, trung thực.

image003.jpg -1
 Đền Taj Mahal (Ấn Độ).

Ở Ấn Độ, đền Taj Mahal - biểu tượng cho tình yêu vĩnh cửu, mang ý nghĩa kiến trúc, nghệ thuật, tâm linh Ấn Độ. Taj Mahal được hoàng đế Mughal Shah Jahan cho xây dựng vào thế kỷ XVII để tưởng nhớ người vợ yêu Mumtaz Mahal. Vì thế, công trình này được gọi là “ngôi đền của tình yêu”, là sự kết tinh “liên văn hóa” giữa nghệ thuật Hồi giáo, Ba Tư và Ấn Độ giáo.

Tính đối xứng gần như tuyệt đối của công trình hay là tính tuyệt đối của tình yêu đích thực? Công trình được làm bằng đá cẩm thạch trắng, phản chiếu ánh sáng theo thời gian: buổi sáng ánh hồng, trưa trắng sáng, chiều vàng và đêm trăng ánh bạc. Thì ra, tình yêu luôn tỏa sáng mọi thời gian, vĩnh cửu với thời gian. Đó cũng chính là biểu tượng con người luôn phát sáng rực rỡ. Phải chăng đó còn là “cấp độ” của tình yêu và cuộc đời: thời trẻ mạnh mẽ, nồng nàn (hồng); tuổi thành niên trí tuệ, sáng láng (trắng sáng)…

Mỗi ngôi đền, ngọn tháp là một cuộc đời

Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nổi tiếng thế giới ngạc nhiên khi Chu Văn An - bậc “vạn thế sư biểu” của Việt Nam, từ thế kỷ XIV đã đưa ra chân lý mang tính hiện đại, phổ quát rộng rãi đến hôm nay: “Ta chưa từng nghe nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên được”.

Ngoài thể hiện tầm quan trọng của giáo dục đối với sự thịnh suy mỗi quốc gia, còn gửi tới nhân loại thông điệp thế giới cần hòa bình, con người phải được tôn trọng. Chỉ khi ấy, “sự học” mới đúng nghĩa. Đền thờ Chu Văn An chính là một mô phỏng về cấu trúc nhân cách người thầy trí tuệ, nhân văn.

Lại có thể hiểu, theo nghĩa bóng, mỗi ngôi đền, ngọn tháp chính là tư thế một con người đứng trong vũ trụ, trời đất, có thể là nơi đông đúc (quần thể đền/tháp), hoặc cô đơn (đền/tháp đơn), đều xứng đáng được tôn trọng, ngợi ca.

Nhà thơ Chế Lan Viên lại hiểu đền nghiêng về nghĩa biểu trưng cho con người đầy sự phức tạp: “Anh là tháp Bay-on bốn mặt/ Giấu đi ba, còn lại đấy là anh/ Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc/ Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình” (Tháp Bay-on bốn mặt). Chỉ một “mặt” thôi đã “nghìn trò cười khóc” rồi, huống hồ cả “bốn mặt”. Khi trở thành tài sản văn hóa, đền là một biểu tượng có sức sống vượt thời gian: “Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng” (Lermontov)… 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...