Đấy có phải là thơ... tù mù, bí hiểm?

Ta hãy đọc lại bài thơ "Mũi Cà Mau" ấy của Xuân Diệu, dù nó có hơi dài. Để khảo sát một bài thơ mà tác giả thích thú. Và, quan trọng hơn, là vì nó... có vấn đề!

Nhà thơ Xuân Diệu chưa đến Cà Mau đã có thơ viết về vùng đất này. Anh rất tâm đắc với "Mũi Cà Mau", bài thơ viết trong những năm đất nước còn bị chia cắt làm hai miền. Có lần, anh nói với tôi bằng một giọng khá là... thỏa mãn:

- Chị Anh Thơ gần đây phát biểu: "Tôi mà không đi thực tế thì tôi không thể làm thơ được"! Chưa biết chừng, một người chưa từng đến Cà Mau lại có thơ về Cà Mau hay hơn thơ của nhiều người đã đến Cà Mau!

Ta hãy đọc lại bài thơ "Mũi Cà Mau" ấy của Xuân Diệu, dù nó có hơi dài. Để khảo sát một bài thơ mà tác giả thích thú. Và, quan trọng hơn, là vì nó... có vấn đề!

Mũi Cà Mau

Mũi Cà Mau: mầm đất tươi non
Mấy trăm đời lấn luôn ra biển;
Phù sa vạn dặm tới đây tuôn,
Đứng lại; và chân người bước đến.

Tổ quốc tôi như một con tàu,
Mũi thuyền ta đó, mũi Cà Mau.

Những dòng sông rộng hơn ngàn thước.
Trùng điệp một màu xanh lá đước.
Đước thân cao vút, rễ ngang mình
Trổ xuống nghìn tay, ôm đất nước!

Tổ quốc tôi như một con tàu,
Mũi thuyền ta đó - mũi Cà Mau.

Lạ thay tình với đất quê hương,
Chưa thấy, chưa thăm mà đã nhớ.
Ai hay mỏm đất mấy năm trường
Đêm ngủ hồn tôi bay tới đó!

Đầu sao cháy bỏng, ruột sao đau
Vết thương lòng - ở mũi Cà Mau

Nơi xa nhất là nơi gần nhất:
Mũi Cà Mau, mũi Cà Mau trước mắt!
Đôi bên Bến Hải nước non nhà
Đâu cũng là Nam, đâu cũng Bắc!

Nắng mưa có thể đổi trăm màu
Lòng không rời hướng mũi Cà Mau.

Ở đầu sóng gió, mỏm non sông
Như ngực anh hùng Lý Tự Trọng.
Cao hơn sóng gió một Thành Đồng,
Đây chốn đi về, nơi ước vọng.

Tổ quốc tôi như một con tàu
Đêm ngày tôi nhớ mũi Cà Mau.

Như dòng máu khỏe thắm đầu tay,
Như ở đầu cây dòng nhựa trút,
Như sức cung dồn ở mũi tên,
Như sức bút ở đầu ngọn bút:

Tổ quốc tôi như một con tàu,
Mũi thuyền xé sóng - mũi Cà Mau.

10-1960

Nhà thơ Xuân Diệu.
Nhà thơ Xuân Diệu. 

Một người bình thường đọc bài thơ cũng có thể thấy ngay có một cái gì... gờn gợn. "cái gì" ấy ở hai câu này, được lặp lại hai lần:

Tổ quốc tôi như một con tàu,
Mũi thuyền ta đó, mũi Cà Mau.

Không những thế, nó còn lặp lại lần thứ ba, có chỗ hơi khác hai lần trước:

Tổ quốc tôi như một con tàu
Mũi thuyền xé sóng - mũi Cà Mau...

Tôi thấy trên báo chí lâu nay, có hai luồng ý kiến của bạn đọc và các nhà phê bình khi viết về những câu thơ ấy trong bài thơ "Mũi Cà Mau" này. Có người cho đó là hai câu thơ dở (nhưng không nói rõ nó dở ở chỗ nào). Có người cho là ở đây, Xuân Diệu đã sơ ý mà lẫn lộn giữa tàu và thuyền.

Tôi tưởng cần phải nói rằng những câu thơ trên của Xuân Diệu, tùy theo cách hiểu của mỗi người: có thể dở, có thể hay, có thể không dở cũng không hay, nhưng chắc chắn là Xuân Diệu không sơ ý, mà có chủ định hẳn hoi.

Tôi có thể cả quyết như thế vì mấy lý do. Thứ nhất, tàu và thuyền ở hai câu thơ liền nhau, rất khó lẫn lộn để sơ ý. Thứ hai, trong một bài thơ mà có đến ba lần Xuân Diệu sử dụng ý tứ này; nếu có sơ ý chăng nữa, thì chỉ sơ ý một lần. Thứ ba, bài thơ "Mũi Cà Mau" được in đi in lại khá nhiều; cả tác giả và báo chí, và nhà xuất bản chẳng ai cho đấy là sơ ý để mà sửa lại.

Đó là những điều dễ thấy nhất. Còn nếu nghiên cứu kỹ về cách dùng chữ, dùng từ, cách đặt câu... trong thơ Xuân Diệu thì càng thấy rõ hơn. Ngay từ thuở mới làm thơ (thể hiện trong tập thơ đầu là "Thơ thơ") cách đây 80 năm cho đến những năm cuối đời, Xuân Diệu luôn luôn muốn viết khác người...

Vậy, trong những câu thơ trên kia, Xuân Diệu có dụng ý gì khi dùng tàu và thuyền ở hai câu thơ liền nhau?

Tôi cho rằng, rất có thể, Xuân Diệu muốn thể hiện sự dũng cảm, kiên cường của mảnh đất tận cùng Tổ quốc là Cà Mau, trong những câu thơ ấy (và suốt cả bài thơ). Nghĩ "vân vi" một chút sẽ thấy: tàu thường làm bằng sắt, thuyền thường làm bằng gỗ, tàu thường lớn hơn thuyền, tàu thường dùng để đi xa hơn thuyền. Cho nên, rất có thể, nhà thơ muốn nói (một cách ẩn ý) rằng: đất nước hình chiếc tàu, nhưng mũi tàu thì như mũi một chiếc thuyền - mà lại có một sức mạnh để hiên ngang, dũng cảm "xé sóng" (tất nhiên mũi tàu cũng có thể "xé sóng", nhưng đó là chuyện thường tình).

Hãy đọc lại sáu câu cuối và lưu ý đến dấu hai chấm (:) ở câu thứ tư, ta sẽ thấy rõ hơn dụng ý của tác giả: nhà thơ đem sức mạnh của "mũi thuyền xé sóng" gắn với các thứ sức mạnh khác để làm một sức mạnh tổng hợp vừa ở trong đời thường, vừa ở trong cuộc chiến đấu trước kẻ thù:

Như dòng máu khỏe thắm đầu tay,
Như ở đầu cây dòng nhựa trút,
Như sức cung dồn ở mũi tên,
Như sức bút ở đầu ngọn bút:

Tổ quốc tôi như một con tàu
Mũi thuyền xé sóng - mũi Cà Mau...

Nhìn từ một phương diện khác, sẽ thấy ngôn ngữ có đời sống riêng của nó, nhiều khi nó biến đổi trái với logic thông thường, mà người đời vẫn chấp nhận và sử dụng. Thí dụ gần nhất với câu thơ Xuân Diệu trên kia là, khi nói về người chỉ huy một con tàu, người ta không gọi "tàu trưởng" mà gọi là "thuyền trưởng"; những người làm việc trên tàu không gọi là "tàu viên" mà gọi là "thuyền viên"!

Một thí dụ khác trong văn chương có "anh em, họ hàng" với hai câu thơ Xuân Diệu là những câu ở bài thơ "Giấc mơ anh lái đò" của nhà thơ Nguyễn Bính viết năm 1938. Trong bài thơ này, Nguyễn Bính đã coi đò và thuyền là một, cũng như ở đây, Xuân Diệu đã coi tàu và thuyền là một vậy.

Không biết có ai giải thích mấy câu thơ Xuân Diệu vừa nói, khác với cách giải thích của tôi?

Tôi muốn lưu ý thêm rằng, đây cũng là một cách đổi mới của Xuân Diệu trong việc biểu đạt tư tưởng của nhà thơ. Có điều, đó là một cách đổi mới... không thành công. Thiếu gì cách đổi mới khác đắc địa hơn mà vẫn nói được cái ý mà nhà thơ muốn nói, như cái ý trong mấy câu thơ kia của nhà thơ Xuân Diệu?

Lại sực nhớ câu thơ của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh trong bài "Buồn xưa" viết năm 1942, mà lâu nay nhiều người cho là bí hiểm:

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Những năm gần đây, có nhà nghiên cứu cho câu thơ này không bí hiểm gì, có thể hiểu được. Theo ông, nghĩa của câu thơ là: Qua những thứ hoa trái thiên nhiên bày trên đĩa, thấy những mùa thời gian đi (câu thơ không đụng gì đến hoa với trái bày trên đĩa)!

Gần chúng ta hơn là những câu thơ chẳng hạn, của nhà thơ Dương Tường, trong tập thơ "36 bài tình" (1989):

Za em
Jêsusalem
pha phem...
requi
em
mưa nhem
lọ lem...
Noel

elle

em
trót quen
thành quen
phố nên
phonème...
Noel

em
leng beng
lang bang
malem
Mariem
x
em x
em
hem
em...

Nếu không phải là một trò đùa cợt vô duyên ở đây, thì chỉ có tác giả là hiểu được những chữ, những dòng thơ trên nói cái gì!

Bất giác, nhớ mấy câu nhà nghiên cứu Trịnh Đình Rư (1893-1962) viết trên tờ: Phụ nữ tân văn (số 29, ra ngày 21-11-1929):

"Đời trước có một cụ đọc tới một bài văn lông bông liền phê luôn một câu rằng:

Ngoài biển Bắc sâu bốn mươi trượng rưỡi
Chim chon chon chạy vào sườn núi Linh Sơn!

Đố ai hiểu nghĩa câu ấy là chi! Ấy là một câu dở để tỏ ý công kích kẻ làm thơ không có ý tưởng... Đương nói biển sâu, nói ngay về núi, há chẳng phải là văn đầu Ngô mình Sở ru? Đại khái những văn thơ của các nhà thơ nhận là văn sĩ và nữ si đời nay, tấp tểnh đua nhau đăng báo, xuất bản, ta có thể đưa hai câu này mà đề tặng, tưởng cũng không lấy gì làm quá".

Hai câu thơ mà Trịnh Đình Ru muốn "đề tặng" chẳng những không lấy gì làm quá thiết mà còn quá nhẹ nhàng, quá ưu ái nếu ta đem nó "đề tặng" cho tác giả những câu thơ kiểu Dương Tường ở trên!

Hồng Diệu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).