Đầu xuân tìm về sân khấu chèo

Không biết tự bao giờ chèo đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Việt Nam, chỉ biết rằng tháng ba ngày tám nông nhàn, giêng hai mở hội làng vào đám thì không thể thiếu tiếng trống, tiếng hát của các gánh chèo.

Ăn no rồi lại năm khoèo
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem

Không biết tự bao giờ chèo đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Việt Nam, chỉ biết rằng tháng ba ngày tám nông nhàn, giêng hai mở hội làng vào đám thì không thể thiếu tiếng trống, tiếng hát của các gánh chèo. 

Tự thân chèo sau một tiến trình phát triển khá dài đã trở thành một bộ môn nghệ thuật độc đáo bậc nhất của Việt Nam. Nó độc đáo không chỉ ở các vai diễn, ở trò diễn, ở tích diễn, ở diễn viên và ở người xem, mà nó còn độc đáo ở trong từng câu hát. Có thể xuất phát từ những câu hát chèo mà hàng trăm năm qua người ta thường rủ nhau: “Đi xem hát” chứ không phải đi xem diễn, đi xem sân khấu v.v...

Cảnh trong vở chèo "Phú ông làm quan".
Cảnh trong vở chèo "Phú ông làm quan".

Thời Lý, trong bối cảnh xã hội yên vui hưng thịnh, nền văn học nghệ thuật của Đại Việt được dịp phát triển mạnh mẽ. Qua cứ liệu vua Lý Thái Tông kết vạn tuế Nam Sơn, đặc biệt là văn bia tháp: “Sùng Thiện Diên Linh”, chúng ta có thể khẳng định rằng “nghệ thuật ca, múa, nhạc thời Lý đã phát triển đến trình độ khá cao, từ nội dung nghệ thuật đến quy mô trình diễn”. 

Tuy nhiên cho đến nay chưa có một nguồn tư liệu chính xác là chèo có từ bao giờ nhưng qua tính chất các làn điệu hát, các khổ trống, các vở diễn, người ta có thể ước đoán rằng chèo đã manh nha có từ thời Đinh. 

Theo Giáo sư Trần Bảng trong cuốn: “Khái luận về chèo” (NXB Sân Khấu xuất bản năm 1998) thì “Tiếng trống đế đánh lưu không chẳng đã mang dáng dấp tiếng trống trong quân đội nhà Đinh. Hát chèo bắt nguồn từ tiếng hát của bà tổ nghề là ưu bà Phạm Thị Trân đời Đinh. Những thế múa cơ bản của chèo nhất là cuộn ngón hoa tay chẳng đã thấy ở những điệu múa cửa đình, múa tế lễ thời ấy. Lại còn những trò kể vè, trò nhại của chú hề cung đình đã in đậm trong các miếng trò hài hước châm biếm của chèo”. 

Nhưng đã gọi là nghệ thuật sân khấu chèo thì nghệ thuật ấy phải mang được đặc trưng cơ bản của nghệ thuật sân khấu, mà một trong những đặc trưng cơ bản là tính xung đột và hành động. Những hình thức mà chúng tôi vừa trích dẫn mới chỉ là những màn múa hát, những anh hề vẽ mặt bôi râu làm vui chứ chưa có tính hành động, tính xung đột trong các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật thời bấy giờ. 

Vậy thì khi nào sân khấu kịch hát dân tộc nói chung và sân khấu chèo nói riêng được gọi là một loại hình sân khấu: Đó chính là lúc có một vở diễn xuất hiện và trong vở diễn ấy mang đủ những yếu tố đặc trưng của sân khấu kịch. Vâng chúng tôi muốn nhắc tới vở: “Tây Vương Mẫu hiến bàn đào”.

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, của Ngô Sĩ Liên (NXBKHXH 1967, tập 2, trang 148) chép: “Trước đây khi đánh quân Toa Đô, bắt được người phường hát là Lý Nguyên Cát, hát giỏi, dạy những con cái tuổi trẻ ở nhà thế gia tập hát điệu phương Bắc. Nguyên Cát đóng tuồng truyện cổ có các tích “Tây Vương mẫu hiến bàn đào”, người ra trò có danh hiệu quan nhân, Chu tử, Tân Nương, Sửu nô, cộng 12 người đều mặc áo thêu, đánh trống, thổi sáo, gảy đàn, vỗ tay, đánh đàn thay đổi nhau ra vào làm trò, có thể cảm động lòng người, muốn cho buồn được buồn, muốn cho vui được vui. Nước ta có tuồng truyện từ ngày đó”.

Cảnh trong vở chèo “Quan Âm Thị Kính”.
Cảnh trong vở chèo “Quan Âm Thị Kính”.

Sau sự kiện này, một loại hình nghệ thuật ra đời đó là nghệ thuật tuồng, nhưng nghệ thuật chèo vẫn chưa được khẳng định có bắt đầu từ đó hay không? Giáo sư Trần Bảng trong cuốn: “Khái luận về chèo” – Sđd - trang 23 - khẳng định: “Nghệ thuật chèo ra đời sau bằng cách tiếp thu phương pháp nghệ thuật của tuồng, phỏng theo cấu trúc của tuồng, lấy kho tàng văn nghệ dân gian của lưu vực sông Hồng làm chất liệu, làm bằng xương thịt mà tạo thành”.  

Trải qua mấy thế kỷ, manh nha, hình thành và ra đời khác với nghệ thuật tuồng, đi sâu vào miêu tả chốn cung vua phủ chúa với những mâu thuẫn xung đột mang tầm quốc gia, nghệ thuật chèo đi sâu vào quần chúng nhân dân. Lấy đời sống thường ngày của nhân dân làm đề tài, lấy lời ăn tiếng nói của nhân dân làm ngôn ngữ nói, và lấy những làn điệu hát dân gian để trở thành những điệu hát trong các vở diễn của mình.

“Không thầy đố mày làm nên”, không thể phủ định vai trò rất trọng yếu của các “bác Thơ”, hay các thầy đồ, thầy khóa trong làng, ngoài xã trong việc đóng góp vào ngôn ngữ trong chèo. Tuy nhiên yếu tố dân gian vẫn là chủ đạo trong nghệ thuật chèo.

Hiện nay số vở chèo cổ được lưu truyền và ghi chép, rồi diễn lại không nhiều (khoảng 7 vở) nhưng đáng chú ý là một vở chèo ngắn mà từ trước tới nay nhiều người đã đề cập nhưng chưa sâu, chưa kỹ, đó là tích: “Mục Liên - Thanh Đề”, hay con gọi là “Huyết hồ”. 

Từ khi còn bé tôi đã được bà ngoại (nếu còn sống năm nay trên 100 tuổi), hát kể cho nghe tích này. Tích trò miêu tả khi chửa đẻ bà Thanh Đề thường mang đồ dơ bẩn ra giặt rũ những chỗ ao hồ đông người dùng nước, ăn ở thì ngoa ngoắt nên đến khi chết bà bị đày xuống 18 tầng địa ngục. 

Con của bà Thanh Đề là Mục Liên đi tu đã thành chính quả ra sức làm việc thiện, cầu xin thần Phật, đất trời, ngục tốt cứu mẹ. Cảm động trước tấm chân thành và lòng hiếu đễ của Mục Liên mà bà Thanh Đề được thoát khỏi 18 tầng địa ngục. 

Tích diễn này thường được các bác thợ kèn trống của nhà có đám tang diễn trong buổi tối trước hôm đưa linh cữu ra đồng. Sau tích diễn thường có màn hát “chèo đò” đưa vong linh vượt qua sông Nại Hà là nơi nguy hiểm của chốn âm ty để quy y về với chốn Phật Đà, tức là chốn “Tây Phương cực lạc”.

Loại trừ chức năng giáo huấn, chúng tôi thấy nghệ thuật diễn xướng ở đây có thể được coi như một lối diễn cổ nhất của nghệ thuật chèo: Sân khấu biểu diễn là hai chiếc chiếu trải giữa sân, diễn viên thì từ trong nhà hoặc từ phía ngoài đường đi vào, các nhạc công kèn trống là người vừa chơi nhạc, vừa vào vai diễn và có lúc lại nói tiếng đế. Các điệu hát ở đây rất gần với các điệu hát của nghệ thuật chèo, đặc biệt là bài chèo đò có: “Khoan ới dô khoan” rất gần với điệu chèo đò của chèo. 

Người xem là gia đình tang chủ và xóm làng đến chia buồn. Nhiều đoạn diễn về nỗi khổ của bà Thanh Đề, người ta lại nhớ đến nỗi khổ của người đã quá cố, con cháu khóc nấc lên, nhiều khi không tiếc tiền thưởng cho phường kèn. Sự hoà đồng giữa người xem và người diễn là ngang nhau. Người xem càng thấy cảm động “càng khóc” bao nhiêu thì người diễn càng hứng thú diễn bấy nhiêu. 

Đôi khi diễn xong, diễn viên, - vốn là những nhạc công hóa trang - đổ mồ hôi, mệt nhoài, phải nằm nghỉ mới lấy lại được sức. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì đây là một trong những bản cổ nhất của nghệ thuật chèo còn lưu truyền trong dân gian. Chúng tôi thấy rất có lý nên đã miêu tả rất chi tiết để cùng minh chứng điều đó.

Như trên chúng tôi đã trình bày: Nghệ thuật chèo hình thành, manh nha và phát triển trong lòng quần chúng nhân dân, nó chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những trò diễn xướng dân gian nên ngôn ngữ của chèo, một trong những thành tố rất quan trong tạo nên một đêm diễn chèo đó chính là hát. 

Trong nghệ thuật hát chèo, ngoài yếu tố diễn viên (giọng hát), nhạc công - đệm cho hát, giai điệu của bài hát (Điệu) thì một yếu tố hết sức quan trọng, tạo nên sức hấp dẫn của một điệu hát, thậm chí của một cảnh diễn, vở diễn, và thậm chí cả một đêm diễn: Đó chính là yếu tố ca từ.

Nhưng yếu tố hát trong nghệ thuật chèo không chỉ đơn thuần là câu hát để thư giãn - giãn trò, mà điều đặc biệt là câu hát được tham gia ngay vào tích trò. Nói một cách khác, hát trong sân khấu chèo cũng chính là một dạng của đối thoại, tức là đối thoại đã được cách điệu, ước lệ thành hát. 

Có thể nói hát là một thành tố không thể thiếu trong sân khấu chèo, “phi hát bất thành chèo”. Nếu một đêm diễn chèo mà không có hát thì không thể gọi là diễn chèo được, chính vì vậy mà người ta có thể thuộc lòng tích diễn, kể vanh vách cốt truyện, nhưng vẫn rất hăng hái đi xem bởi một trong những sức hút ghê gớm của nghệ thuật chèo là: hát chèo.

Soạn giả Mai Văn Lạng

Các tin khác

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

Gần đây, nhiều hoạt động lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, di sản mang đậm sắc màu dân tộc như vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đã thu hút sự quan tâm của giới trẻ...

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.