Đầu nguồn cách mạng - Đầu nguồn thơ

Trong kho tàng huyền thoại nhân loại, có một mẫu số chung về cổ mẫu "hang": mang tính thiêng, là nơi tái sinh, nơi sản sinh, trú ngụ của các tài năng, là nơi cội nguồn, nơi tiếp thêm sức mạnh… Những nét nghĩa phổ quát ấy hoàn toàn ứng với quan niệm về hang Cốc Bó trong văn hóa Việt Nam.

Địa phương Pác Bó nay thuộc xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng. Theo tiếng địa phương, Pác Bó có nghĩa là đầu nguồn. Nằm sâu trong khe núi, hang Cốc Bó nhỏ bé, ẩm thấp, có chiều cao trên 7m. Là nơi đầu nguồn nước, từ khu vực này có dòng suối trong vắt, chảy ra. Dân làng thành kính gọi là suối Giàng. Hang Cốc Bó kín đáo, một số bà con gần đó lấy hang làm nơi cất giấu những đồ vật quý giá, để tránh kẻ xấu, sau này để tránh thực dân Pháp vào ăn cướp.

su-i lê nin, núi các mác t-i khu di tích qu-c gia d-c bi-t pác bó. -nh h-ng di-m.jpg -0
Suối Lê Nin, núi Các Mác tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó. Ảnh: Hồng Diễm

Chiều 28/1/1941, trong bộ quần áo chàm của đồng bào dân tộc, Bác Hồ vượt biên giới, qua cột mốc 108 về bản Pác Bó. Ngày 8/2/1941, với bí danh Già Thu, Bác lên sống và làm việc trên hang Cốc Bó - một địa điểm gắn liền với sự kiện quan trọng: Tháng 5/1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám của Đảng, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã mở ra trang sử mới. Dòng suối Giàng, Bác Hồ đổi tên là suối Lê-nin. Phía trên hang đá có ngọn núi cao, Bác đặt tên là núi Các Mác.

Địa danh Pác Bó trở thành miền thượng nguồn, từ đó chảy ra dòng sông lịch sử cách mạng Việt Nam. Hang Cốc Bó với nghĩa "đầu nguồn" đúng cả với huyền thoại, tín ngưỡng, cả trong thực tế lịch sử. Theo dòng chảy thời gian, biểu tượng sẽ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu để trở thành một cổ mẫu sừng sững trong lịch sử văn hóa Việt Nam và thế giới, để các thế hệ sau "bóc" ra các lớp mã ý nghĩa vàng ròng quý giá.

Sự kiện Nguyễn Ái Quốc về nước đồng nghĩa với việc cách mạng Việt Nam bước sang trang mới. Từ thời điểm ấy, con tàu cách mạng Việt Nam có người cầm lái vững vàng, lướt qua mọi khó khăn bão tố; dân tộc Việt Nam từ đây có vị lãnh tụ dẫn lối chỉ đường đi lên hạnh phúc. Tất yếu sự kiện ấy trở thành nguồn cảm hứng cho văn chương sáng tạo nên những tác phẩm để đời.

Là nhà thơ lớn, sự kiện ấy đi vào thơ Bác một cách tự nhiên. Khoảng đầu tháng 2/1941, Bác Hồ sáng tác bài thơ "Tức cảnh Pác Bó": "Sáng ra bờ suối, tối vào hang/ Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng/ Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng/ Cuộc đời cách mạng thật là sang".

Bài thơ như là một trang nhật ký ngắn gọn, theo lối tả thực, ghi lại chuyện sinh hoạt trong một ngày gắn liền với không gian "suối", "hang" ở Pác Bó. Ăn uống kham khổ, chỉ "cháo bẹ, rau măng". Công việc là "dịch sử Đảng". Một tiếng cười tự trào hóm hỉnh, lấp ló trong hai chữ "sẵn sàng".

Câu cuối là một vế đối trái hẳn với ba câu trên, tạo ra một nhận thức mới. Chữ "sang" là "nhãn tự" ở vị trí cuối cùng làm bừng sáng hình tượng toàn bài, xua tan mọi cái khó khăn, gian khổ. Cấu trúc này cùng mô hình bài "Chiều tối" trong "Nhật ký trong tù" (khi tác giả bị giam trong nhà lao Tưởng Giới Thạch) với chữ "hồng" cuối bài tỏa sáng, tỏa ấm không gian vốn lạnh lẽo. Một chữ "sang", chữ "hồng" làm nên giá trị cả một thi phẩm lớn.

Ngày 20/2/1961, thăm Cao Bằng, Bác cùng bà con vào lại hang Cốc Bó, núi Các Mác, suối Lê-nin. Lúc dừng chân trên một tảng đá bên suối Lê-nin, Người xúc động ứng khẩu thành bài "Thăm lại hang Cốc Bó": "Hai mươi năm trước ở nơi này/ Đảng vạch con đường đánh Nhật - Tây/ Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu/ Non sông gấm vóc có ngày nay".

Bác viết "ra chiến đấu" ("ra" chứ không phải "ta"), tức Đảng và dân ta đoàn kết như một, coi hang Cốc Bó là ngôi nhà, là địa thế vững chắc nhất, từ đó mà đi "ra" chiến đấu giành thắng lợi. Kết cấu theo lối đối lập, về thời gian, "hai mươi năm trước" và "ngày nay"; về không gian, "nơi này" đơn sơ và "non sông gấm vóc". Bài thơ trước hết viết cho mình, nhớ về thời điểm "hai mươi năm trước", cũng không gian này, Đảng "vạch con đường" cách mạng. Bác ghi công ơn của Đảng, không hề nói về mình.

Viết về hình tượng Bác về nước sau 30 năm xa cách, mỗi nhà thơ đều có cách thể hiện riêng trong luồng cảm xúc chung kính trọng, thương yêu, đầy cảm phục. Trong "Theo chân Bác", Tố Hữu có những vần thơ tinh tế, cảm động diễn tả giây phút đi vào lịch sử: "Ôi sáng xuân nay, Xuân 41/ Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/ Bác về... Im lặng. Con chim hót/ Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ".

Đánh giá rất cao sự kiện Bác về nước, nhà thơ nhắn mọi người nên về thăm: "Nơi Bác về, nguồn nước mới sinh". "Nguồn nước mới sinh" vừa là nghĩa thực (đầu nguồn) vừa ca ngợi vai trò "nơi Bác về" là nơi khởi nguồn cách mạng. "Ai hay ngọn lửa trong hang núi/ Mà sáng muôn lòng, vạn kiếp sau" thiên về nghĩa biểu tượng: từ hang Cốc Bó, Bác thắp ngọn lửa cách mạng soi đường tương lai.

untitled-1.jpg -1
Hang Pác Bó.

Với phong cách giàu chất suy tưởng, từ chi tiết có thật, nhà thơ Chế Lan Viên đã nâng hình tượng Bác Hồ khi về đến biên giới Cao Bằng, trở thành biểu tượng lớn lao, kỳ vĩ của lịch sử, của chân lý: "Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai" (Người đi tìm hình của Nước). Trong phút giây thiêng liêng, Bác hình dung ra hình hài đất nước rạng rỡ trong tự do, độc lập.

Trong "Đi giữa mùa xuân", Chế Lan Viên viết: "Hang Pác Bó, đấy là căn cứ đầu tiên của Nước", nâng vai trò của "hang" lên tầm cao mới: căn cứ đầu tiên của cả đất nước. Trong bài thơ "Thăm Pác Bó", Xuân Diệu tôn lên hình tượng Bác mang tầm vóc đất nước thân yêu, để "nghĩ cho muôn đời": "Một vùng thuần khiết non xanh/ Như mang ánh mắt tinh anh Bác Hồ/ Hãy còn bàn đá nhấp nhô/ Bác ngồi dịch sử, nghĩ cho muôn đời...".

Cách tiếp nhận biểu tượng "hang" ở các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Bắc - với tư cách "chủ thể văn hóa" là sâu đậm hơn cả, vừa rất riêng, vừa rất chung. Trong nhiều tác phẩm có một môtíp khá đặc biệt: Người về mở cửa hang, chỉ xin được giới thiệu sáng tác của Nông Quốc Chấn (1923 - 2002) - Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (2000). Nhà thơ tên thật là Nông Văn Quỳnh, giác ngộ cách mạng từ trước 1945. Là "cánh chim đầu đàn" của các nhà văn dân tộc thiểu số, ông có các tập thơ, tiêu biểu như: "Tiếng ca người Việt Bắc" (1959), "Người núi Hoa" (1961), "Đèo gió" (1968), "Bước chân Pác Bó" (1971), "Suối và biển" (1984)...

Làm nhiều thơ về Bác Hồ nhưng thành công hơn cả là "Bài thơ Pác Bó". Nhờ một tư duy so sánh gần gũi với nếp cảm, nếp nghĩ đồng bào người dân tộc thiểu số, bài thơ đi vào lòng người: "Núi cao bao nhiêu ngọn/ Núi bao nhiêu hang sâu/ Khi Cụ Hồ chưa đến/ Ai biết đâu là đâu!/ Nước trong xanh dòng suối/ Trải mưa nắng bao đời/ Khi Cụ Hồ chưa tới/ Ai biết dòng đầy vơi/ Từ khi hang Cốc Bó/ Được đón tiếp Già Thu/ Từ đấy tên Pác Bó/ Gắn với tên Cụ Hồ...".

Giả sử tách riêng mỗi câu thơ, chỉ là câu tả, câu kể, nhưng đặt trong mạch thơ, nhờ lối cấu trúc tu từ so sánh trước và sau khi Cụ Hồ đến, cùng là thiên nhiên trời đất núi non này, nhưng trong nhận thức của con người, thì khác hẳn nhau.

Phép đối này đã nâng tầm đối tượng miêu tả ngang tầm với thiên nhiên rừng núi: Bác về mọi người mới nhận ra núi cao như thế, hang sâu như vậy… Hình tượng được miêu tả vừa lớn lao, cao cả vừa gần gũi, bình dị: Bác về mang đến sự nhận thức mới mẻ cho mọi người, trước đó không ai nhận ra (Ai biết đâu là đâu).

Thì ra, sức chinh phục, hấp dẫn của thơ, nhiều khi không nằm ở câu chữ, mà ở mối quan hệ bố cục, chi tiết, hình ảnh. Một tứ thơ đặc sắc, độc đáo bật ra: "Người đi vòng quả đất/ Người về mở cửa hang/ Mở muôn ngàn con mắt/ Đón cờ đỏ sao vàng!". Câu chữ tự nhiên của một tấm lòng hết sức chân thành, trong sáng như suối nguồn.

Hình tượng "Người về mở cửa hang" thần tình, giản dị mà không hề đơn giản. Đây cũng là môtíp, là "mẫu gốc" của thần thoại nguyên thủy trên thế giới: người anh hùng/dũng sĩ phá cửa hang cứu người (đẹp) bị quỷ/giặc/phù thủy bắt nhốt…

Truyện "Thạch Sanh" của dân tộc Kinh cũng có chi tiết Thạch Sanh phá hang cứu công chúa, chính là một ánh xạ của cổ mẫu nguyên thủy xa xưa. Dùng hình tượng/môtíp ấy để viết về Bác, tức đã coi Bác là người đem lại tự do, đem lại sự sống, ánh sáng. Nhưng để có sự giản dị, thi nhân phải vượt lên đỉnh cao của sự trải nghiệm, của vốn sống, vốn tri thức, vượt lên trên cả các phép nghệ thuật tu từ thông thường!

Cổ mẫu thường được bao bọc bởi chất thơ của huyền thoại. Vì lẽ này, như mặt trời, địa danh Pác Bó thường tỏa sáng lung linh trong thơ và nhạc.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.