Con Rắn: Từ thơ ứng tác đến thơ trữ tình

Lẽ thường, rắn sẽ là con vật rất khó đi vào văn chương nghệ thuật. Thế nhưng, trong một số trường hợp đặc biệt, rắn vẫn đi vào các thi phẩm và tạo nên những hiệu ứng độc đáo, gây ấn tượng mạnh mẽ với nhiều độc giả, thậm chí là người đọc của nhiều thế hệ.

Trong 12 con giáp của bảng can chi, rắn (cùng chuột) là một trong hai con vật được xem là có hại nhiều hơn có lợi, bị người ta ghét hoặc ghê sợ. Điều này có thể thấy rõ qua hàng loạt câu thành ngữ tục ngữ có sự xuất hiện của rắn như: rắn đổ nọc cho lươn; cõng rắn cắn gà nhà; khẩu Phật tâm xà; miệng hùm nọc rắn; ác như rắn hổ mang; đánh rắn phải đánh khúc giữa…

Lẽ thường, rắn sẽ là con vật rất khó đi vào văn chương nghệ thuật. Thế nhưng, trong một số trường hợp đặc biệt, rắn vẫn đi vào các thi phẩm và tạo nên những hiệu ứng độc đáo, gây ấn tượng mạnh mẽ với nhiều độc giả, thậm chí là người đọc của nhiều thế hệ.

Con Rắn: Từ thơ ứng tác đến thơ trữ tình -0
Tranh rắn của họa sĩ Lê Trí Dũng.

Xin được mở đầu với con rắn trong bài thơ ứng tác được tương truyền là của Lê Quý Đôn (1726 -1784), người được coi là nhà bác học lớn của Việt Nam trong thế kỷ 18. Chuyện kể rằng khi Lê Quý Đôn mới 10 tuổi, vì phạm lỗi trêu chọc người khách của cha, ông bị phạt và phải làm theo một bài thơ Nôm theo thể thất ngôn bát cú với nhan đề “Rắn đầu biếng học” theo yêu cầu của người khách.

Trong giây lát, Lê Quý Đôn đã ứng khẩu đọc luôn như sau: “Chẳng phải liu điu cũng giống nhà/ Rắn đầu biếng học lẽ không tha/ Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ/ Nay thét mai gầm rát cổ cha/ Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo/ Lằn lưng cam chịu vệt năm ba/ Từ nay Trâu, Lỗ xin siêng học/ Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia”.

Cái tài tình của bài thơ là câu nào cũng có chữ rắn hoặc nhắc đến một loài rắn, nhưng đồng thời đơn vị chỉ rắn/loài rắn ấy lại được dùng phép chơi chữ để thể hiện thêm một ý nghĩa khác: liu điu vừa là tên một loài rắn vừa gợi ý nghĩa bé nhỏ, hổ lửa vừa là tên loài rắn vừa có ý nghĩa hổ thẹn với ngọn đèn (đèn vốn được coi là biểu tượng của sự học), mai gầm vừa là tên loài rắn vừa chỉ việc lười học khiến cha phải quát tháo (gầm), ráo vừa là tên loài rắn vừa có nghĩa tính từ là khô, lằn vừa là tên loài rắn (thằn lằn) vừa là động từ chỉ việc bị phạt roi, Trâu vừa chỉ rắn hổ trâu vừa nhắc đến quê hương của Khổng Tử (nước Trâu), hổ mang vừa là tên một loài rắn vừa thể hiện ý nghĩa “xấu hổ, mang tiếng”.

Bài thơ vừa đúng niêm luật của thể thất ngôn bát cú, vừa tuân theo chủ đề chăm học mà người ra đề yêu cầu, đồng thời thể hiện một trí tuệ thông minh và tài ứng đối tuyệt vời của cậu bé thần đồng, sau này sẽ trở thành một nhà sử học, nhà thơ, nhà giáo, nhà tư tưởng xuất sắc của thời phong kiến Việt Nam.

Con Rắn: Từ thơ ứng tác đến thơ trữ tình -0
Bức tranh rắn của họa sĩ Võ Quang Phát.

Sau Lê Quý Đôn gần hai thế kỷ, Phạm Công Thiện (1941 - 2011), một gương mặt độc đáo và xuất sắc của văn nghệ Sài Gòn trước 1975 đã xuất bản một tập thơ với cái tên “Ngày sinh của rắn” (1966). Bản thân Phạm Công Thiện cũng mang tuổi rắn, là người thông thạo nhiều ngoại ngữ, nghiên cứu rất sâu về triết học. 12 bài thơ được đánh số trong tập “Ngày sinh của rắn” vì thế không phải là thứ thơ dễ đọc với độc giả phổ thông. Thơ ông thuộc dòng thơ ý niệm, đan cài nhiều triết lý, đồng thời gửi gắm nhiều hoang mang, bất ổn của tâm trạng con người trong đời sống thực tại. Các bài số 5, số 7 và số 9 trong tập thơ này là những bài thơ có xuất hiện hình ảnh con rắn.

Ở bài số 5, con rắn gắn với sự tìm về một miền ký ức với những vẻ đẹp chỉ còn trong mơ ước: “Paris đuổi mất mây mộng hoang đường/ Đập vỡ cơn điên trên triền đá sương/ Tôi trốn giặc đời/ Tắm trong hồn hương/ Trái đu đủ/ Trong khu vườn xưa/ Con rắn nhỏ”. Ở bài số 7, con rắn lại gắn với những ngày sắp đến, là một tương lai với khá nhiều mịt mờ: “Ồ cây mồng tơi/ Của thời trẻ dại/ Tôi gọi thầm/ Rắn cuộn tròn/ Tương lai”. Ở bài số 9, đây là bài thơ duy nhất của tập viết theo thể lục bát với hình ảnh con rắn xuất hiện ngay từ câu thơ đầu tiên: “Rắn trườn vỡ trứng chim rừng/ Tôi nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm/ Khuya buồn tủi nhục môi em/ Mưa bay nhỏ nhẹ qua thềm bơ vơ”.

Con rắn trong thơ Phạm Công Thiện và toàn bộ tập thơ “Ngày sinh của rắn” nói chung, có thể xem là một cuộc tìm về bản thể, giãi bày cái tôi của chính tác giả với nhiều vùng kín nhiệm, bí mật, chìm khuất, trong đó có rất nhiều đổ vỡ và xa xót của những tâm sự khó nói hết thành lời.

Phải sau tập “Ngày sinh của rắn” hơn nửa thế kỷ, thơ Việt mới lại có một tác giả gây được ấn tượng đậm nét với những bài thơ viết về rắn. Đó là Trương Xuân Thiên (1979) với tập thơ lục bát “Áo hồ ly” (NXB Văn học, 2017). Trước đó, tác giả họ Trương đã cho ra mắt hai tập thơ: “Tư duy S” (NXB Văn học, 2005) và “Homo Sapiens - Người tinh khôn” (NXB Văn học, 2009), nhưng đến “Áo hồ ly” thì đây là một tập thơ thuần lục bát.

Lục bát của Trương Xuân Thiên đã từng được thi sĩ Du Tử Lê dành những lời khen ngợi: “Lục bát của Trương được ngọn hải đăng siêu thực dẫn đường cho mọi lênh đênh tìm về của thể Sáu Tám, vốn đẫm đẫm tâm cảnh và cảm thức lạc lõng bấp bênh của tuổi trẻ đương thời, trước những vấn nạn lớn lao, muôn đời của kiếp nhân sinh”. Trong tập “Áo hồ ly”, có tới 4 bài lục bát viết về rắn. Đó là các bài Hổ mang 1, Hổ mang 2, Hổ mang 3 và Hổ mang 4.

Trong một bài viết giới thiệu về tập “Áo hồ ly” in trên Báo Văn nghệ số 26 năm 2017, tôi đã từng gọi lục bát Trương Xuân Thiên là thứ lục bát kỳ ảo, đi giữa đôi bờ của tượng trưng và siêu thực, sử dụng nhiều kỹ thuật tu từ và thủ pháp của các loại hình khác nhau như hội họa, điện ảnh, tâm lý/ cận tâm lý để tạo nên những câu thơ đột sáng. Bốn bài thơ “Hổ mang” cũng không đi ra ngoài phong cách chủ đạo ấy.

Xin được giới thiệu bài “Hổ mang 1”: “Đêm rằm cuội trắng vu quy/ Mà lòng suối cạn vân vi mấy mùa/ Hổ mang ngậm ngải lên chùa/ Bời bời mây trắng bỏ bùa trần ai/ Đêm qua tỉnh giấc mê dài/ Mơ thành chính quả ngự đài hoa sen/ Sáng ra hai mắt ướt nhèm/ Từ dòng máu lạnh gọi tên di đà”. Không chỉ nhân cách hóa con rắn, Trương Xuân Thiên còn thổi vào những dòng lục bát một không khí liêu trai, huyễn hoặc, hơi có phần ma quái, nói về ước mơ của rắn mà phải chăng chính là ngụ ý những mơ ước không thể nào chạm tới của mỗi kiếp người. Với mỗi bài thơ, con rắn vừa là hình tượng trung tâm, đồng thời tác giả còn muốn kể với người đọc một câu chuyện bí mật, ly kỳ.

Tiếp theo là bài “Hổ mang 2”: “Một nàng rắn chúa hổ mang/ Nằm mơ ú ớ đổi sang lốt người/ Tỉnh ra dở khóc dở cười/ Vừa mới chớp mắt đã mười năm trôi/ Hổ mang bò đến chân đồi/ Ngậm hòn cuội trắng bồi hồi vu quy/ Thế là đêm ấy thiên di/ Chín năm sinh hạ hòn bi ngọc xà”. Vẫn là một giấc mơ, nhưng trong màn sương mờ ảo của ngôn ngữ, ta nhận ra rõ hơn một khát khao về tình yêu, về hạnh phúc đôi lứa, về ước mơ được làm vợ làm mẹ. Nhưng câu trả lời cho khát khao ấy vẫn còn là một điều bí mật.

Ý thơ đan xen giữa mộng và thực, xa và gần, thiêng liêng và trần tục, hứa hẹn những câu chuyện sẽ còn được kể tiếp trong bài Hổ mang 3: Một chiều lũ rắn đưa tang/ Đại vương rắn chúa hổ mang băng hà/ Từ đồi tới bãi tha ma/ Bời bời máu lạnh la đà khóc than/ Thủy triều dâng ngập thế gian/ Núi sông cất tiếng than van âu sầu/ Ta nằm mộng thấy vực sâu/ Mặt trời khoác chiếc áo nâu ướt đầm. Tới bài này, các nhân vật được mở rộng hơn, xuất hiện cả một “lũ rắn” với “đại vương rắn chúa”. Không còn là câu chuyện về những tự sự của một cá nhân, một số phận mà hình như đã chạm tới các ẩn dụ về thế sự về thời cuộc. Giữa cái lớn lao và cái nhỏ bé, cái quyền lực và cái phục tùng, thân phận con người vẫn không thể thoát được những quy luật sinh - diệt của trời đất.

Nếu như ba bài “Hổ mang” phía trên, mỗi bài chỉ có 8 câu, thì bài “Hổ mang” cuối cùng dài tới 12 câu với sự xuất hiện của hai nhân vật chính - một cặp rắn mào: “Ngày xưa có cặp rắn mào/ Yêu nhau từ độ trăng sao lọt lòng/ Đào hang ở phía bờ sông/ Trồng hoa ở phía đồi thông phấn vàng/ Đêm đêm máu lạnh mơ màng/ Cầm tay nhau hát hỗn mang an lành/ Rắn chồng mặc áo thiên thanh/ Bắc cầu Ô Thước qua nhành mai hoa/ Hoan ca đến buổi mù lòa/ Hạ sinh được một tiểu xà tinh anh/ Rắn mào lễ tạ trời xanh/ Một đêm trăng lạnh quyên sanh trên đồi”.

Một câu chuyện tình yêu thật đẹp với đủ những ngọt ngào và mất mát. Tình yêu ấy đơm hoa kết trái để cho ra đời một “tiểu xà tinh anh”, dù sau đó sẵn sàng chấp nhận hy sinh như một lời nguyền, một hẹn thề nào đó từ trong tiền kiếp. Nói về câu chuyện của loài rắn nhưng thực ra cũng là ngụ ý những câu chuyện muôn đời của kiếp người.

Thơ về rắn trong dòng chảy văn học sử, tuy không nhiều về số lượng song cũng đã lưu lại được những ấn tượng khó phai, gắn với những sáng tạo riêng biệt và bút pháp độc đáo của mỗi thi sĩ.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).