Con đò trôi ngang các dòng sông văn hóa!

Nếu thuyền đi dọc sông, dùng chở người, hàng hóa, vật dụng… thì đò thường trôi ngang sông chủ yếu chở người từ bờ bên này sang bờ bên kia. Ngày xưa đường xá, cầu cống hiếm hoi mà sinh sống ở vùng văn minh sông nước nên ai cũng biết đến con đò. Những đêm thanh vắng nhà ai gần bến đò sẽ nghe thấy những tiếng gọi “Đò ơi” da diết, giục giã có phần khắc khoải, vì người đi xa nào cũng muốn lên đò nhanh để về nhà…

Hiểu vậy mới càng thấy cái “giật mình” (Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò) của Tú Xương trong bài thơ “Sông lấp” là tiếng gọi ký ức của một thời. Ngày nay thật hiếm hoi một tiếng gọi đò, vì có rất nhiều cây cầu… Vẫn còn “đò dọc”, nhưng đi “đò dọc” thì chẳng cần gọi “đò ơi”…

image001.jpg -0
Bến đò.

Cùng với cây đa, bến nước, sân đình, con đò trở thành biểu tượng cơ bản của làng xã Việt từ xa xưa. Con đò trôi nhiều nhất vào thế giới tình yêu, vì có nhiều nét tương đồng. Tình yêu là chờ đợi. Đi đò cũng vậy, phải đợi đò. Tình yêu là băn khoăn, lo lắng. Đi đò cũng thế… Nhất là tình yêu luôn phải vượt qua thử thách, đi đò cũng vậy, cũng là sự “vượt qua”… Con đò chênh chao “bơi” vào ca dao tình yêu: “Cây đa trốc gốc trôi rồi/ Đò đưa bến khác em ngồi đợi ai?”. Trời đất! Cây đa bền vững thế mà bị “trốc gốc”, đã thế còn bị “trôi” thì tình yêu vốn mong manh lại càng mong manh biết chừng nào. “Em” ở đây trong hoàn cảnh “đò đưa bến khác”, thế mà vẫn “ngồi đợi ai”. Xót quá. Thanh xuân có thì. Tuổi con gái ngày xưa càng ngắn. Thế mà em… Có khi “đò” là hiện thân của người con gái: “Đò đưa anh bước lên bờ/ Đi không trở lại, đò chờ suốt năm”. Trên đời này biết bao những cuộc gặp gỡ, có cuộc gặp nên duyên, có cuộc gặp để thương để nhớ trong suốt đời vô vọng… “Anh” có đáng trách không? Cũng tùy vào mối quan hệ thân sơ… Nhưng đọc lên thấy bùi ngùi thương cho chính phận mình từng là người “đưa đò”… Không cứ là cô gái mà nhiều chàng trai cũng chung tâm trạng trong câu ca dao thổn thức này: “Dòng sông chung một con đò/ Sao anh tiếc, chẳng đưa đồ hỏi xin?”…

Chắc chắn một điều rằng càng ở thời xa xưa con người càng gắn chặt với con đò, con thuyền. Chả thế mà bộ môn khảo cổ học tìm thấy nhiều “mộ thuyền” thời nguyên thủy, tức táng người chết cùng nhiều đồ “tùy táng” trong con thuyền thường là một thân cây lớn. Có lẽ vì thế con đò đi vào tín ngưỡng tâm linh sâu sắc đến mức được thiêng hóa, thành phương tiện duy nhất đưa người về thế giới “bên kia”.

Theo nhiều nghiên cứu thì những hình thuyền/đò trên trống, thạp đồng Đông Sơn chính những con thuyền/đò đưa linh hồn người chết… Tín ngưỡng cũng là nguồn gốc nghệ thuật. Thế là có “chèo đưa linh” - một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian mang đậm tính nghi lễ của cư dân vùng biển Trung bộ còn đến hôm nay. Nó xuất phát từ quan niệm “người chết chưa phải là hết” mà là “về” (sống gửi thác về) với tổ tiên nơi “chín suối”. Muốn đến được đó phải “đi đò”. Nên có lễ “phạn hàm” là bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền (đồng kẽm, đồng chinh) vào miệng người chết. Gạo để linh hồn ăn, không thành ma đói. Tiền để đi đò…

Một điều đáng chú ý là lễ “phạn hàm” và “đi đò” này cũng tương tự với nghi lễ đưa tiễn linh hồn và “đi đò” trong thần thoại Hy Lạp. Người Hy Lạp cổ xưa kể Charon(tên khác là Kharon) là người lái đò dưới địa ngục Hades, có nhiệm vụ chở những linh hồn người mới chết qua sông Styx. Charon lấy công chở là một đồng xu được đặt trong/trên miệng của người chết. Nếu không có lệ phí này linh hồn không được sang sông nên phải lang thang bờ bên này một trăm năm.

Charon là con trai của thần bóng tối Erebus và nữ thần đêm đen Nyx, anh trai Charon là Thanatos - Thần Chết. Từ khi cõi âm hình thành, Charon được giao nhiệm vụ chèo đò đưa linh hồn người chết từ cõi dương xuống thế giới âm ti, nên cũng được gọi là Thần Lái đò. Sông Styx nằm dưới âm giới, là con sông thiêng trong thế giới thần thoại Hy Lạp. Mỗi khi “hành khách” là những anh hùng và những trang tuyệt sắc thì công việc chở đò của Charon không hề đơn giản, nhiều khi anh ta bị bắt nạt. Nhất là với những người trần gian đang sống nên có khi không nộp “lệ phí”.

Ví như anh hùng Hercules khi xuống địa ngục, vì không có “đồng xu” nên đã dọa đánh Charon một trận nên anh ta phải chở không công. Danh ca hát Orpheus tìm cách xuống cõi âm để đón người vợ đã mất về dương gian, cũng không có tiền nên đem tiếng đàn buồn rầu chinh phục người lái đò khiến Charon cảm động mà chịu chở miễn phí. Lại có chuyện công chúa Psyche xinh đẹp tuyệt trần và giàu có thì cẩn thận mang gấp đôi số tiền, để Charon chở cả hai chuyến đi và về...

image002.jpg -1
Hình ảnh Charon chèo đò qua sông Styx!

Tại sao thời cổ đại mà tín ngưỡng ở ta lại giống với tín ngưỡng người Hy Lạp? Rất khó giải thích nhưng có một cơ sở để khẳng định giống nhau là do tương đồng về lối sống, tập quán canh tác, quan niệm… nên niềm tin sẽ giống nhau. Cách giải thích dễ chấp nhận nhất giống nhau là vì cùng chung một hằng số nhân văn đều mong muốn người chết về thế giới bên kia suôn sẻ, mát mẻ để sống mãi nơi an lạc vĩnh hằng!

Con đò trong Phật giáo được biểu hiện qua hai chữ “cứu độ” (chúng sinh). Chữ “độ” nghĩa là giúp đỡ, còn có nghĩa vượt qua khó khăn trở ngại (hóa độ, độ nhật, độ trì...). Phật “độ” chúng sinh như là cách giúp người đi bộ vượt sang sông (độ giang, quá giang) bằng đò ngang chở từ bờ bên này sang bờ bên kia. Thế là có thuật ngữ “bờ Mê bến Giác”. Con người muốn tới bến Giác phải nhờ đò vượt qua sông khó khăn chướng ngại. Cái hiện đại, khoa học của Phật giáo (nếu được gọi như vậy) là quan niệm chỉ cho mượn đò còn người sang sông phải tự chèo lái lấy. Tức Phật chỉ giúp phương tiện để người thực hiện mục đích. Đó là quan niệm “tự giác tự độ”, tức phải biết tự cứu mình, tự dạy mình, tự giáo dục, rèn giũa mình vượt qua cái “vô minh” để “giác ngộ”. Ngày nay triết lý giáo dục dạy học hiện đại cũng chưa vượt qua được quan niệm này của nhà Phật, thậm chí là “học” theo Phật. Ở ta cũng hay nói “cho cần câu chứ không cho con cá” cũng là nói theo cách giáo dục của nhà Phật!

Rất thâm thúy, Phật lại dặn người đã sang sông phải biết bỏ con đò lại, tức sau khi đạt mục đích phải biết để lại phương tiện (cho người khác dùng). Nếu lại cứ vác đò trên vai mà đi tiếp thì chẳng khác nào đi ngược lại bến Mê. Như vậy là “cố chấp” chưa biết “buông bỏ”, là còn vì u mê, còn vì tính tham… Vả lại việc không bỏ con đò lại tức cái tâm còn ích kỷ, cứ khư khư giữ chặt lấy cái mình đã có. Tưởng rằng đã sang được bờ Giác thì đạt đạo nên sinh ra tự kiêu tự mãn, không còn quan tâm đến người khác cũng đang cần đò. Phật gọi đó là vì cái tâm còn chấp ngã, vị kỷ, làm sao có thể gọi là từ bi, hỷ xả. Kẻ tham lam ích kỷ thì tu bao nhiêu kiếp cũng không thể thành chính quả!

Như vậy lại dẫn đến một cách hiểu con đò chính là biểu tượng cho Kinh Phật. Dành ra bao thời gian, công sức học Kinh Phật có khi thuộc làu nhưng lại không hiểu ý Phật cũng vô ích, thậm chí có hại. Chẳng khác nào kẻ sang sông nhờ đò rồi lại vác đò lên vai mà đi tiếp. Thì ra học tập kinh kệ chỉ là hình thức mà thôi, cái chính là thấm ý Phật vào tâm để hành đạo giúp đời “cứu độ”… Một ý nghĩa phổ quát bật ra cho ngày hôm nay: Có bao kẻ suốt ngày ôm sách vở, nói sách vở nhưng liệu có mấy người hiểu sách vở!

Thời toàn cầu hóa hiện đại, đường không đi lại bằng máy bay, đường bộ đi bằng ô tô vun vút qua những cây cầu hiện đại… Liệu con đò có đi vào cổ tích? Nhưng ngay từ thuở nhà thơ Nguyễn Bính còn sống thì con đò cũng đã “cổ tích hóa” rồi. Đây là “giấc mơ anh lái đò” (tên bài thơ, 1938): “Tưng bừng vua mở khoa thi/ Tôi đỗ quan Trạng, vinh quy về làng/ Võng anh đi trước võng nàng/ Cả hai chiếc võng cùng sang một đò”. Giấc mơ bồng bềnh ấy, đến nay vẫn vương vấn trong tâm hồn bao chàng trai chưa vợ…!!!

Nhưng vẫn có những con đò neo vào lịch sử. Thời chống Mỹ, ở miền đất lửa Quảng Bình có Mẹ Suốt (bài thơ cùng tên của Tố Hữu) dù tuổi cao nhưng dưới mưa bom của quân xâm lược vẫn chèo đò đưa quân vượt sông vào Nam chiến đấu: “Một tay, lái chiếc đò ngang/ Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày”. Nhờ những người Mẹ như thế, những con đò như thế đất nước mình mới nở hoa độc lập: “Chẳng bằng con gái, con trai/ Sáu mươi còn một chút tài đò đưa/ Tàu bay hắn bắn sớm trưa/ Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò…”. 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).