Có một tượng đài người Mẹ trong các ca khúc cách mạng

Gần 20 năm sau ngày đất nước thống nhất, năm 1994 Nhà nước đã có pháp lệnh phong tặng danh hiệu "Mẹ Việt Nam Anh hùng". Tuy nhiên, suốt dặm dài lịch sử đấu tranh của lớp lớp cha anh, hình tượng Mẹ đã tạc vào dáng đứng của Tổ quốc, đã đi vào các tác phẩm văn học - nghệ thuật một cách tự nhiên, dung dị mà sinh động.

Đã 68 năm trôi qua, kể từ ngày 27/7/1947, hằng năm cứ đến ngày này, những nén tâm nhang của bao thế hệ người Việt lại được thắp lên thành kính khắp các nghĩa trang, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc ta lại được cụ thể hóa bằng những hành động ý nghĩa đối với những người lính mang thương tích trở về sau chiến tranh. Và trong ngày lễ kỉ niệm đó, có một tượng đài vĩ đại không thể không nhắc tới đó là Mẹ - một phần của lịch sử bi tráng, đau thương; làm nên bản trường ca bất tử, đầy kiêu hãnh tự hào, minh chứng cho sự trường tồn, bất diệt của dân tộc.

Gần 20 năm sau ngày đất nước thống nhất, năm 1994 Nhà nước đã có pháp lệnh phong tặng danh hiệu "Mẹ Việt Nam Anh hùng". Tuy nhiên, suốt dặm dài lịch sử đấu tranh của lớp lớp cha anh, hình tượng Mẹ đã tạc vào dáng đứng của Tổ quốc, đã đi vào các tác phẩm văn học - nghệ thuật một cách tự nhiên, dung dị mà sinh động.

Đó là chân dung một người mẹ cụ thể, đằng đẵng chờ chồng ròng rã suốt 20 năm: "Cả cuộc đời cha đi bộ đội/Quà về cho mẹ là mái tóc pha sương/Và những vết thương trên ngực cha/Khi trở gió lại đau nhức nhối…" để nhận về món quà hội ngộ: "Chiếc ba lô gió sương đã gội/Gia tài cha tặng mẹ chỉ thế thôi…".

Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng (nằm tại Núi Cấm TP Tam Kỳ, Quảng Nam).
Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng (nằm tại Núi Cấm TP Tam Kỳ, Quảng Nam).

Trong suốt những tháng năm chiến tranh biền biệt ấy, riêng mẹ phải chịu bao gian khổ, thiệt thòi mà không một lời than vãn: "Hai mươi năm ngày mẹ cưới/Đến hôm nay sống đời vợ chồng/Hai mươi năm… mẹ nuôi con một mình". Vậy nên, Mẹ hiển nhiên là một biểu tượng cao quý để mỗi đứa con ngợi ca và muốn tìm về để nương náu sau những ưu phiền, va vấp, là một bờ vai rộng lớn, bao dung cho con dựa vào: "Con chỉ tìm về với mẹ thôi/Trong lòng mẹ bát ngát biển khơi…" (Mẹ - Phan Long, phổ thơ Đoàn Ngọc Thu).

Sẽ không có gì ngạc nhiên khi các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ dành cho Mẹ nhiều tình cảm đến vậy. Bởi những cuộc trường chinh của dân tộc đau thương này đã lấy đi của Mẹ tất cả: "Nước mắt mẹ không còn/Vì khóc những đứa con/Lần lượt ra đi, đi mãi mãi…" và dẫu chiến tranh đã lùi xa, "Vết thương trên thịt da đã lành theo năm tháng/Nhưng vết thương lòng, mẹ vẫn còn nặng mang…".

Chỉ với "Người mẹ của tôi", nhạc sĩ Xuân Hồng đã nói thay triệu triệu người con đất Việt niềm thương cảm lớn lao cùng lòng biết ơn vô hạn những người Mẹ đã rứt ruột hiến dâng những đứa con cho Tổ quốc mình. Để từ đó, các thế hệ lớn lên trong hòa bình biết trải lòng mình ra san sẻ, tri ân, biết sống có ích hơn, xứng đáng hơn với những hi sinh không gì bù đắp nổi của mẹ: "Mẹ Việt Nam ơi, mẹ Việt Nam ơi/Cho con xin chia sớt nỗi buồn/Cho con xin xẻ đôi bát cơm/Cho con hôn đôi mắt mỏi mòn/Cho con soi lại bóng hình con…/Mẹ Việt Nam ơi, mẹ Việt Nam ơi/Xin cám ơn người, người mẹ của tôi".

Lật lại từng trang sử bi hùng của dân tộc, đâu đâu cũng thấp thoáng dáng dấp Mẹ. Mẹ đã đồng hành cùng dân tộc trên muôn nẻo trường chinh. Trong số đó, có những người mẹ "may mắn" được đón những đứa con trở về dù chỉ là nắm tro cốt, chiếc ba lô, cuốn nhật kí. Có những người mẹ phải gánh chịu tột cùng đau thương khi dâng tặng đứa con mình cho Tổ quốc mà vĩnh viễn không nhìn thấy hình hài, để rồi một đời khắc khoải tiếc thương, đến khi nhắm mắt vẫn chưa thỏa ước nguyện.

Chúng ta đã có những tượng đài của Mẹ Thứ, Mẹ Suốt như những minh chứng sống động của lịch sử, là đại diện tiêu biểu cho hàng vạn người mẹ Việt Nam Anh hùng. Tổ quốc sẽ đời đời khắc ghi công ơn trời biển của Mẹ, dẫu những việc làm và hành động của thế hệ hôm nay chưa thể đền đáp xứng đáng với những đóng góp và hi sinh của Người. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, lòng thành kính sẽ mãi mãi tròn đầy, lòng biết ơn luôn khắc vào tâm khảm đến mãi muôn sau của triệu triệu người con đất Việt.

Khúc tráng ca tháng 7 hào hùng, đầy tự hào, kiêu hãnh hằng năm vẫn đều đặn được cất lên đã lay động đến tận cùng cảm xúc của thế hệ hôm nay: "Hát về những người mẹ Việt Nam, hát mừng những người mẹ anh hùng/Đời dâng hiến giống nòi, mẹ sống giữa gian lao/Vì đất nước hi sinh cả cuộc đời.../Nhìn mái tóc mẹ bạc phơ, và ánh mắt mẹ như mơ/Là biết mấy chờ mong mỏi mòn/Từng đứa con ra đi không bao giờ trở lại…".

Bằng xúc cảm chân thành của một người lính, nhạc sĩ An Thuyên với ca khúc "Hát về mẹ Việt Nam Anh hùng" đã khái quát được một cách đủ đầy, trọn vẹn một chân dung Mẹ Việt Nam, sừng sững bao la như một tượng đài vĩ đại nhất của dân tộc: "Mẹ đã có ngàn đứa con, mẹ đã có cả nước non/Mẹ mãi mãi cùng con trên đường dài/Núi sông hôm nay biết ơn người mẹ hiền…", để muôn đời mẹ luôn gần gũi, chở che chúng con: "Thỏa những nỗi sầu đau tháng ngày/Và chúng con hôm nay như ùa vào lòng mẹ/Lại nghe hát ru con bên nôi, mẹ lại kể câu chuyện ngày xưa/Mẹ đẹp mãi, mẹ hát cùng con…".

Sẽ thật khó để liệt kê hết các tác phẩm âm nhạc viết về Mẹ, ngợi ca Mẹ trong khuôn khổ một bài viết. Cũng như thật khó để kể hết công ơn, đức hi sinh vô bờ bến của hàng vạn người Mẹ Việt Nam Anh hùng trên mảnh đất đau thương nhưng quật khởi này. Vậy nên, người viết xin lại được mượn lời của nhạc sĩ An Thuyên để khép lại thông điệp tháng 7 như một lời tri ân thành kính nhất: "Trọn tình nước non, Mẹ Việt Nam Anh hùng/Tự hào chúng con có Mẹ Việt Nam Anh hùng".

Ngô Thế Lâm

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.