Chữ "ngồi" trong thơ Việt

Mỗi con người, trong một ngày cũng như trong suốt cuộc đời, luôn phải xác lập các tư thế khác nhau của mình trong sự trôi chảy xung quanh của đời sống, của vạn vật. Các tư thế ấy có thể biểu hiện sự vận động (đi, chạy), có thể biểu hiện sự nghỉ ngơi (nằm, ngồi), lại có những tư thế mang tính trung gian giữa vận động và nghỉ ngơi (đứng).

Những tư thế này được miêu tả một cách phong phú, sống động trong nhiều lời ăn tiếng nói của nhân dân cũng như được đi vào thi ca để có cơ hội trở thành những biểu tượng, góp phần diễn tả một thế giới tinh thần phong phú của con người. Bài viết này xin được bàn riêng về chữ NGỒI.

thien-la-gi-ngoi-thien-co-tac-dung-gi-3.jpeg -0
Ngồi thiền.
1.Theo Từ điển tiếng Việt, ngồi được định nghĩa là "tư thế đặt mông trên mặt nền hoặc chân gập lại để đỡ toàn thân, phân biệt với đứng, nằm". Như vậy, trong các tư thế không dời khỏi vị trí ban đầu, ngồi được xem là một trong ba tư thế cơ bản, có thể là làm việc mà cũng có thể là nghỉ ngơi, suy nghĩ. Trong đời sống người Việt, cùng là một tư thế ngồi nhưng có rất nhiều cách biểu hiện/ miêu tả khác nhau.
Ngồi xổm (ngồi chồm hổm) là tư thế ngồi gập hai chân lại, mông không chạm đất, thường gắn với việc người ngồi vẫn thực hiện một hoạt động nào đó. Khác với ngồi xổm, ngồi bệt hoặc ngồi dãi thẻ có tính nghỉ ngơi cao hơn. Nếu như ngồi bệt (ngồi phệt) là cách ngồi sát mông xuống đất (sàn), không kê lót gì bên dưới thì ngồi dãi thẻ là cách ngồi duỗi thẳng hai chân, thường nói về việc phụ nữ không phải làm gì cả. Lại có những cách ngồi lộ rõ tâm trạng của chủ thể, thường gắn với những suy tư, chẳng hạn ngồi bó gối.
Ngồi cũng có thể biểu hiện những cảm xúc khác nữa như sự ngại ngần, lo lắng hay e sợ. Ta có một loạt các đơn vị định danh như: ngồi khép nép, ngồi thu lu, ngồi rúm ró… Có những cách ngồi biểu thị sự tĩnh lặng ở cấp độ cao như: ngồi kiết già, ngồi thiền, ngồi đồng. Có những tư thế ngồi được cho là không đẹp mắt, đáng bị chê cười như ngồi dạng háng. Nhìn vào hành  động ngồi có thể đánh giá được tầm văn hóa của chủ thể hành động. Vì thế ngồi cũng được xem là một việc cần phải dạy bảo, từ thế hệ trước nhắc nhở thế hệ sau, như tục ngữ đã có câu: Ăn trông nồi ngồi trông hướng.
Ngồi còn đi vào nhiều thành ngữ, kéo theo những nhận định, đánh giá của người sử dụng. Chẳng hạn ngồi lê mách lẻo (ngồi lê đôi mách) là câu phê bình những kẻ hay nghe ngóng hóng hớt những chuyện của người này rồi đem mách cho người khác, thường là những chuyện riêng tư. Hay như câu Ngồi mát ăn bát vàng thường dùng để phê phán những kẻ bóc lột, không lao động mà lại được hưởng mọi sự sung sướng. Ngoài ra, còn có câu thành ngữ Hán Việt "Tọa sơn quan hổ đấu" (ngồi trên núi xem hai hổ đánh nhau) để nói về những kẻ tinh khôn, có phần ranh ma, chờ kết thúc một sự việc căng thẳng rồi nhảy vào hưởng lợi.

2.Trong thi ca Việt, ngồi đã đi vào vô số các tác phẩm từ cổ điển cho đến hiện đại, biểu hiện muôn vàn các trạng thái cảm xúc khác nhau của con người. Từ trong ca dao, ngồi đã biểu thị những mong nhớ, đợi chờ, phấp phỏng của những kẻ yêu nhau: "Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa như ngồi đống than". Các thành ngữ như "đứng lên ngồi xuống, ra đứng vào ngồi" cũng biểu hiện sự lo lắng không yên của chủ thể. Trong những trường hợp thế này, ngồi rõ ràng không có chút nào của sự thả lỏng hay nghỉ ngơi.

Trong phần cuối của đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du tả Kiều ngồi đó mà lo lắng không yên, dự cảm về bao nhiêu bão giông sắp sửa kéo đến: "Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh/ Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi". Bàn về ngồi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, cũng không thể quên sáng tạo độc đáo của tác giả trong đoạn tả Mã Giám Sinh mua Kiều, chỉ qua một chữ mà lột tả được bản chất vô học, thất lễ, con buôn của gã họ Mã: "Ghế trên ngồi tót sỗ sàng".

ngồi đọc sách dưới bóng cây.jpg -0
Ngồi đọc sách dưới bóng cây.

Sang thơ Việt thời hiện đại, vẫn là một chữ ngồi đã kéo theo bao nhiêu tâm trạng của chủ thể hành động. Phải chăng nếu so sánh trong tương quan với hai trạng thái không rời vị trí còn lại là đứng và nằm, ngồi được sử dụng để bộc lộ cảm xúc nhiều hơn. Trong Thơ Mới lãng mạn (1932 - 1945), ta có một động từ ngồi trong thơ Nguyễn Bính để diễn tả nỗi nhớ mong trong tình yêu: "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông/ Một người chín nhớ mười mong một người". Cũng vẫn là chữ ngồi ấy, trong Lỡ bước sang ngang lại hiện lên hình bóng đáng thương của người chị cô đơn, tuyệt vọng đến héo hon: "Tháng ngày qua cửa buồng the/ Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa".

Nguyễn Bính cũng dùng chữ ngồi để nói về chính ông, một lãng tử giang hồ, một nghệ sĩ khát khao tìm kiếm tri âm, giăng mắc trong đó những nỗi buồn thời đại: "Ta đi những biết về đâu chứ/ Đã dấy phong yên khắp bốn trời/ Thà cứ về đây ngồi giữa chợ/ Uống say rồi gọi thế nhân ơi!" (Hành phương Nam). Trong "Ông đồ" của Vũ Đình Liên, ta cũng bắt gặp một nghệ sĩ cô đơn với nỗi buồn về một vẻ đẹp văn hóa có tự ngàn đời nay bỗng bị lãng quên: "Ông đồ vẫn ngồi đó/ Qua đường không ai hay/ Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài trời mưa bụi bay".

Ngồi không chỉ được miêu tả như tư thế/ biểu hiện của một cá thể. Ngồi có lúc còn gắn với sự có mặt của nhiều người, cũng là một cách để sẻ chia tâm sự: "Tối đen thành phố đêm lưu lạc/ Máy bay giặc rít ở trên đầu/ Ba đứa da vàng ngồi uống rượu/ Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu" (Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn - Lưu Quang Vũ). Sau này, trong thơ Việt sau 1975, ngồi còn gắn với tử biệt sinh ly: "Mẹ ngồi bên nấm mộ con/ Là ngồi bên tấm nôi tròn ngày xưa/ Xót đau biết mấy cho vừa/ Hoàng hôn đời mẹ cơn mưa lại về" (Lời ru cỏ non - Kim Châu).

Còn với Nguyễn Bính, thi sĩ phải mất một đêm thao thức để tìm ra một chữ ngồi đắc địa, miêu tả việc mầm mạ được gieo xuống rồi bén rễ trỗi dậy: "Mộng một đêm qua mạ đã ngồi".

3.Trong các nhạc sĩ Việt Nam hiện đại, theo quan sát của tôi, Trịnh Công Sơn có lẽ là người đưa hành động ngồi vào các lời ca của mình nhiều hơn cả. Ngồi trong những bài hát của Trịnh Công Sơn chất chứa và đầy ắp những suy tư. Ngồi có mặt và trải khắp trong các thời kỳ sáng tác của Trịnh. Có khi ngồi gắn với sự bơ vơ hoang hoải của tuổi trẻ trong một hành trình kiếm tìm: "Về trên phố cao nguyên ngồi/ Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi" (Lời thiên thu gọi). Và rồi ngồi là một khát khao bình yên, khát khao được trở về: "Nhiều đêm muốn đi về con phố xa/ Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà".

Ngồi trong nhạc Trịnh gắn với nỗi cô đơn, nuối tiếc về những gì đã qua, về sự trôi chảy của thời gian cuốn theo bao bóng hình: "Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại/ Cuộc tình nào mãi ra khơi ta còn mãi nơi đây" (Tình xa). Ngồi có khi như một mộng du, một tỉnh thức ngỡ ngàng: "Lòng thật bình yên mà sao buồn thế/ Giật mình nhìn tôi ngồi hát bao giờ" (Bên đời hiu quạnh).

Cũng có lúc trong bài hát của Trịnh, ta bắt gặp những chữ ngồi như có chút reo vui, như muốn lạc quan hơn dù ngày mai còn mờ mịt: "Nhật nguyệt í a trên cao/ Ta ngồi ối a dưới thấp/ Một đường í a cong queo/ Nắng vàng ối a đột ngột" (Cũng sẽ chìm trôi). Sau này, ngồi trong nhạc Trịnh càng lúc càng bình lặng hơn. Ông như gửi vào đó những chiêm nghiệm nhân sinh, muốn thấu suốt từ quá khứ đến hiện tại: "Tôi như trẻ nhỏ ngồi bên hiên nhà/ Chờ xem thế kỷ tàn phai…/Đôi khi một người dường như chờ đợi/ Thật ra đang ngồi thảnh thơi" (Tự tình khúc).

Không chỉ có một Trịnh Công Sơn nhạc sĩ, chúng ta còn có Trịnh Công Sơn thi sĩ trong một bài thơ tứ tuyệt, là một hoài niệm về mối tình đã qua. Chữ "ngồi" bây giờ không phải nói về mình mà là dành cho người con gái của ngày xưa: "Chỗ em ngồi ngày xưa còn ấm lắm/ Anh gối lên và ngủ một giấc dài/ Em có hiểu đời cho em là mộng/ Nên anh về cứ tưởng một thành hai" (Mộng tưởng)

Cùng là một tư thế ngồi, không rời khỏi vị trí mà có thể mang trong đó bao sự kiện, thông điệp, tâm trạng, nỗi niềm. Tưởng như nghỉ ngơi mà không hề ngơi nghỉ. Viết đến đây, tôi bỗng nhớ tới một bài thơ bốn câu nổi tiếng của nhà thơ Phạm Tiến Duật mà ở đó, ngồi không phải dừng lại mà là một khởi đầu mới. Xin được dùng bài thơ ấy để khép lại bài viết này: "Cái vết thương xoàng mà đi viện/ Hàng còn chờ đó tiếng xe reo/ Nằm ngửa nhớ trăng nằm nghiêng nhớ bến/ Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo" (Nhớ).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).